Đặng Trần Côn
Học thuậtThân thiện
Định nghĩa
- Danh từ riêng:
- Tên một danh nhân văn hóa Việt Nam thời Lê trung hưng: Đặng Trần Côn là tên một danh sĩ, nhà thơ nổi tiếng của Việt Nam sống vào khoảng thế kỷ 18, dưới thời vua Lê Ý Tông.
- Tác giả của tác phẩm "Chinh phụ ngâm": Ông được biết đến nhiều nhất với vai trò là tác giả nguyên tác chữ Hán của khúc ngâm nổi tiếng "Chinh phụ ngâm".
Ví dụ sử dụng
- Danh từ riêng:
- "Chinh phụ ngâm" nguyên tác chữ Hán là sáng tác của Đặng Trần Côn.
- Cuộc đời và sự nghiệp của Đặng Trần Côn còn nhiều điều chưa được sáng tỏ.
- Các nhà nghiên cứu thường nhắc đến Đặng Trần Côn cùng với nữ sĩ Đoàn Thị Điểm.
Các cách sử dụng nâng cao
"Tác phẩm của Đặng Trần Côn": dùng để chỉ toàn bộ hoặc một phần sáng tác văn chương do ông để lại, chủ yếu bằng chữ Hán.
- Tác phẩm của Đặng Trần Côn phản ánh tài năng và tâm hồn nghệ sĩ.
"Nguyên tác Đặng Trần Côn": thường dùng trong nghiên cứu văn học để chỉ bản gốc chữ Hán "Chinh phụ ngâm" do ông sáng tác, phân biệt với bản diễn Nôm của Đoàn Thị Điểm.
- Cần đối chiếu giữa nguyên tác Đặng Trần Côn và bản dịch Nôm để thấy được tài năng của cả hai tác giả.
Biến thể và từ liên quan
- "Chinh phụ ngâm" (Danh từ): Tác phẩm nổi tiếng nhất của Đặng Trần Côn, một khúc ngâm chữ Hán về nỗi lòng người vợ có chồng ra trận.
- "Đoàn Thị Điểm" (Danh từ riêng): Nữ sĩ, người được cho là đã dịch "Chinh phụ ngâm" ra chữ Nôm, có mối liên hệ về văn chương với Đặng Trần Côn.
Từ đồng nghĩa/Gần nghĩa
- Danh sĩ Đặng Trần Côn: Cách gọi trang trọng, nhấn mạnh thân phận một nhà nho, một trí thức của ông.
- Tác giả "Chinh phụ ngâm": Cách gọi xác định ông qua tác phẩm tiêu biểu nhất.
Thông tin bổ sung (Về nhân vật)
- Quê quán: Xã Nhân Mục (làng Mọc), huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội).
- Tính cách & Giai thoại: Ông được mô tả là người thông minh, hiếu học (có giai thoại đào hầm dưới đất để học khi có lệnh cấm đèn), tính tình phóng khoáng, thích rượu.
- Sự nghiệp: Đỗ Hương cống (Cử nhân), làm quan đến chức Hiến sát sứ, nhưng mất sớm khi chưa đến 40 tuổi.
- Sáng tác khác: Ngoài "Chinh phụ ngâm", ông còn có các tác phẩm như "Tiêu Tương bát cảnh", "Bích Câu kỳ ngộ", và một số bài phú.
- Danh sĩ đời Lê ý tông, không rõ năm sinh, năm mất, quê xã Nhân Mục (tục gọi làng Mọc), huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Sơn Bình)
- Ông thông minh, hiếu học, gặp lúc chúa Trịnh Giang cấm nhân dân Thăng Long không được để đèn sáng, hoặc đốt lửa ban đêm, ông phải đào hầm dưới đất thắp đèn mà học
- Ông thi đỗ hương cống, được bổ Phủ học huấn đạo, rồi làm Tri huyện Thanh oai (Hà Đông) sau tháng Chiến khán ngự sử đài, chẳng bao lâu thì mất, chưa đến 40 tuổi. (Về cái chết của ông có sách chép: hình như ông bị tội, xử án rồi mất trong tù)
- Ông là tác giả khúc ngâm Chinh phụ lừng danh. Tương truyền ông làm thơ khá nhiều, lúc còn trẻ có đưa cho nữ sĩ Đoàn Thị Điểm xem. Bị chê thơ dở, ông cố gắng dồi mài, ít lâu sáng tác khúc ngâm Chinh phụ, khiến Đoàn Thị Điểm phải phục rồi phiên dịch ra quốc âm
- Sách Tang thương ngẫu lục ghi: Khoảng năm về già, ông làm ra khúc Chinh phụ ngâm, cả thảy đến mấy nghìn lời. Làm xong, đưa Ngô Thì Sĩ xem, ông Ngô thán phục mà rằng:" Văn này đánh đổ cả lão Ngô này chớ còn gì nữ"a. Khúc ngâm ấy người ta ghi chép, truyền sang đến tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây ở Trung Quốc
- Tác phẩm của ông đều bằng chữ Hán. Ngoài bản Chinh phụ ngâm còn có: Tiêu tương bát cảnh (thơ), Bích câu kì ngộ (truyện thơ), và các bài phú: Trương Hàng tư thuần lô, Trương lương bố y, Khấu môn thanh
- Tùng Niên Phạm Đình Hổ ghi nhận về Đặng Trần Côn:" Tính thích rượu, buông thả không chịu bó buộc trong khoang trường ốc. Văn chương ông nổi tiếng lừng thiên hạ"