Chu Văn An
Học thuậtThân thiện
Định nghĩa
- Danh từ riêng:
- Tên một danh nhân lịch sử, nhà giáo, nhà nho nổi tiếng đời Trần: Chu Văn An là một nhà giáo dục, học giả uyên bác và đức độ, được suy tôn là "Vạn thế sư biểu" (Người thầy mẫu mực của muôn đời) của Việt Nam.
- Biểu tượng của đạo đức, khí tiết và sự thanh cao của người trí thức: Tên ông thường được nhắc đến như một hình mẫu về sự chính trực, không màng danh lợi và giữ vững khí tiết trước quyền lực.
Thông tin chi tiết
- Thân thế: Chu Văn An (1292 - 1370), tên tự là Linh Triệt, hiệu là Tiều Ẩn (nghĩa là "người tiều phu ẩn dật"). Quê quán tại làng Quang Liệt, huyện Thanh Đàm (nay thuộc xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội).
- Sự nghiệp:
- Ông từng đỗ Thái học sinh (tương đương Tiến sĩ) nhưng không ra làm quan mà mở trường dạy học.
- Đời vua Trần Minh Tông, ông được mời làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám (tương đương Hiệu trưởng trường Đại học Quốc gia thời bấy giờ), dạy học cho các hoàng tử và con em quý tộc.
- Ông nổi tiếng với bản "Thất trảm sớ" (tờ sớ xin chém bảy tên nịnh thần) dâng lên vua Trần Dụ Tông. Không được chấp thuận, ông từ quan về ở ẩn tại núi Phượng Hoàng, Chí Linh (Hải Dương).
- Tác phẩm: Ông để lại các tác phẩm như "Tứ thư thuyết ước", "Tiều ẩn thi tập", "Quốc ngữ thi tập" (đã thất lạc).
- Vinh danh: Ông được truy tặng tước Văn Trinh Công, được thờ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội) cùng với các bậc hiền triết khác.
Ví dụ sử dụng
- Danh từ riêng:
- Chu Văn An là một trong số rất ít người được thờ tại Văn Miếu với tư cách một nhà giáo.
- Tấm gương khí tiết của thầy Chu Văn An được lưu truyền qua nhiều thế hệ.
- Nhiều trường học ở Việt Nam ngày nay mang tên Chu Văn An để tưởng nhớ và noi theo đức độ của ông.
Các cách sử dụng nâng cao
- "Tấm gương Chu Văn An": dùng để chỉ hình mẫu lý tưởng về một nhà giáo mẫu mực, có đạo đức và khí phách.
- Người thầy ấy luôn được học trò kính trọng như một "tấm gương Chu Văn An" thời hiện đại.
- "Khí tiết Chu Văn An": chỉ sự ngay thẳng, cương trực, dám nói lên sự thật và bảo vệ lẽ phải, bất chấp quyền uy.
- Nhà báo đó đã viết bài phê phán mạnh mẽ với một "khí tiết Chu Văn An".
Biến thể và từ gần giống
- Tiều Ẩn: Hiệu của Chu Văn An, thường dùng trong văn chương, thơ ca để chỉ ông với phong thái của một ẩn sĩ.
- Núi Phượng Hoàng là nơi Tiều Ẩn lui về ở ẩn những năm cuối đời.
- Văn Trinh Công: Tước hiệu được vua Trần Nghệ Tông truy tặng cho Chu Văn An sau khi ông mất.
- Bài vị thờ cụ tại Văn Miếu ghi rõ: "Văn Trinh Công Chu Văn An".
Từ đồng nghĩa (trong ngữ cảnh biểu tượng)
- Bậc cao sĩ: Chỉ người có học vấn uyên thâm và phẩm hạnh thanh cao.
- Vạn thế sư biểu: Danh hiệu tôn vinh người thầy mẫu mực cho muôn đời (thường dùng cho Khổng Tử, và ở Việt Nam dùng cho Chu Văn An).
Thành ngữ, điển tích liên quan
- Thất trảm sớ: Điển tích xuất phát từ sự kiện Chu Văn An dâng sớ xin chém bảy tên nịnh thần. Ngày nay, cụm từ này thường dùng để ví với hành động can gián mạnh mẽ, quyết liệt vì đại nghĩa.
- Bài xã luận đó như một "Thất trảm sớ" nhằm vào những tiêu cực trong bộ máy.
- Treo mũ từ quan: Hành động từ bỏ chức quan để giữ trọn khí tiết, lấy từ việc Chu Văn An từ chức về ở ẩn.
- Ông đã chọn cách "treo mũ từ quan" thay vì tiếp tục làm việc trong một môi trường tham nhũng.
- (Tân Tị 1292 - Canh Tuất 1370)
- Còn gọi là: Châu An
- Cao sĩ đời Trần, tự Linh Triệt hiệu Tiều ẩn, quê xã Quang Liệt, huyện Thanh Đàm (sau đổi là xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì), tỉnh Hà Đông ( nay thuộc tỉnh Hà Sơn Bình)
- Đời Trần Minh Tông, ông làm quốc tử giám Tư nghiệp và dạy các con vua. Vào lúc này ông soạn sách Tứ thư thuyết ước. Học thuyết của ông là "Cùng lí, chính tâm trừ tà, cự bế", chú trọng về phương diện thực hành Khổng giáo. Nhiều học trò ông cũng là danh sĩ đương thời như Lê Quát, Phạm Sư Mạnh
- Đời Dụ Tông, ông dâng sớ xin chém 7 tên quyền gian, vua không nghe. Ông từ chức về ở núi Kiệt Đặc, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, hạy học trò, làm nhà ở giữa 2 ngọn Kỳ Lân và Phượng Hoàng
- ít năm sau, Trần Dụ Tông có chỉ triệu, nhưng ông từ chối nên vua giận. Bảo Từ hoàng thái hậu nói:"Người ấy là bậc cao hiền, thiên tử không có quyền bắt người ta làm tôi được, giao thế nào được chính sự cho người ta". Tuy từ quan, song chỉ khi nào nhà nước có việc triệu hội ông mới chịu đến
- Năm Canh Tuất 1370, ông mất, Trần Nghệ Tông ban tên thụy là Văn Trinh, hiệu Khang Tiết, thờ nơi Văn Miếu
- Con cháu ông về sau cũng có người nổi tiếng
- Ngoài bộ sách "Tứ thư thuyết ước" ông còn tập thơ chữ Hán Tiều ẩn thi tập và tập thơ bằng quốc âm Quốc ngữ thi tập ( tập này sau bị quân Minh lấy đem về Trung Quốc)
- Phê bình Tiều ẩn thi tập Phan Huy Chú cho là:"Thi cực thanh sảng u dật, nhàn nhã tự tại, do khả tướng kiến ẩn cư nhi cao tú dã: lời thơ sáng suốt, nhàn nhã tự tại, còn có thể tưởng tượng được cái thú cao ẩn"