Lá thắm
Học thuậtThân thiện
Định nghĩa
- Danh từ:
- Lá cây có màu đỏ thắm, thường là lá phong: Chỉ loại lá có màu đỏ tươi, rực rỡ, thường gắn liền với mùa thu và hình ảnh thiên nhiên.
- Vật tượng trưng cho sứ giả tình yêu, nhân duyên: Trong văn học cổ điển, "lá thắm" thường được dùng như một biểu tượng, một phương tiện để gửi gắm tâm tư, tình cảm, đặc biệt là trong những câu chuyện lãng mạn, gắn kết nhân duyên.
Ví dụ sử dụng
- Danh từ:
- Mùa thu, rừng cây phủ đầy lá thắm. (Vào mùa thu, khu rừng được bao phủ bởi những chiếc lá đỏ thắm.)
- Câu chuyện "lá thắm đề thơ" là một giai thoại đẹp về tình yêu thời Đường. (Câu chuyện "viết thơ lên lá đỏ" là một giai thoại đẹp về tình yêu thời nhà Đường.)
Các cách sử dụng nâng cao
- "Lá thắm đề thơ" / "Hồng điệp đề thi": Cụm từ cố định chỉ việc viết thơ lên lá đỏ để gửi gắm tâm sự. Đây là điển tích văn học nổi tiếng kể về mối lương duyên giữa chàng thư sinh Vu Hựu và cung nữ Hàn Thị.
- Truyện "lá thắm đề thơ" minh chứng cho sức mạnh kết nối của thơ ca và sự trân trọng nhân duyên.
- "Cạn dòng lá thắm": Cách nói văn chương, ẩn dụ cho việc cạn kiệt, chấm dứt những cơ hội, nhân duyên tốt đẹp.
- (Trong Truyện Kiều) "Cạn dòng lá thắm, dứt đường chim xanh" ý nói mối nhân duyên tốt đẹp đã hết, không còn tin tức gì nữa.
Biến thể và từ gần giống
- Hồng diệp / Hồng điệp (danh từ): Từ Hán-Việt đồng nghĩa, cũng có nghĩa là "lá đỏ".
- Hồng diệp mùa thu là một cảnh sắc tuyệt đẹp.
- Lá đỏ (danh từ): Cách gọi thông thường, giản dị hơn cho "lá thắm".
- Con đường ngập tràn lá đỏ vào tháng mười.
Từ đồng nghĩa
- Lá hồng: Cách gọi có tính chất văn chương, nhấn mạnh vào màu sắc (hồng/đỏ).
- Diệp hồng: Từ Hán-Việt, nghĩa là lá màu hồng/đỏ.
Thành ngữ, điển tích liên quan
- Lá thắm chỉ hồng: Cụm từ thường dùng trong văn chương cổ, ví "lá thắm" như một vị mai mối (chỉ hồng) tốt, kết nối những mối lương duyên.
- (Trong thơ Vu Hựu - Hàn Thị) "Phương tri hồng điệp thị lương môi" (Mới biết lá đỏ ấy là bà mối giỏi).
- Chim xanh lá thắm: Thành ngữ chỉ sứ giả của tình yêu, người đưa tin nhân duyên. "Lá thắm" thường đi đôi với "chim xanh" trong các câu thơ, lời ca.
- Trông mong chim xanh lá thắm mang tin.
- Do chữ "Hồng điệp đề thi" (Đề thơ trên lá đỏ)
- Thái Bình Quảng Ký: Đời Đường, Vu Hựu một hôm tình cờ bắt được chiếc là đỏ thắm trôi trên một ngòi nước từ cung vua chảy ra, trên có bài thơ:
- Lưu thủy hà thái cấp
- Thâm cung cận nhật hàn
- ân cần tạ hồng điệp
- Hảo khứ đáo nhân gian. (Nước chảy sao xiết vậy, trong thâm cung suốt ngày nhàn hạ, ân cần tạ lá đỏ, khéo trôi tới chốn nhân gian)
- Hựu bèn lấy một cái lá thắm khác và đề 2 câu thơ:
- Tằng vặng diệp thượng đề hồng oán
- Diệp thượng đề thi ký dữ thùy ? (Từng nghe nỗi hờn oán của khách má hồng đề trên lá, không biết trên lá đề thơ gửi cho ai ?)
- Rồi đem thả vào đầu ngòi nước cho trôi vào cung vua. cung nữ Hàn Thị, người thả chiếc lá đỏ buổi trước, bắt được. Về sau, nhân dịp vua thả 3000 cung nữ, Hàn Thị được ra, rồi lại tình cờ kết duyên với Vu Hựu. Nhân đó mới làm bài thơ rằng:
- Nhất liên giai cú tùy lưu thủy
- Thập tải ưu tư mãn tố hòa
- Kim nhật khước thành loan phượng hữu
- Phương tri hồng điệp thị lương môi. (Một đôi câu thơ đẹp trôi theo dòng nước chảy, 10 năm ôm bụng nghĩ ngợi âm thầm. Ngày nay thành bạn loan phượng, mới biết lá đỏ ấy là bà mối giỏi.)
- Kiều:
- Thâm nghiêm kín cổng cao tường
- Cạn dòng lá thắm, dứt đường chim xanh