Lê Lai

Học thuật
Thân thiện
Lê Lai

Lê Lai mặc áo giả làm vua, cưỡi voi dẫn quân ra trận.

Định nghĩa
  1. Danh từ riêng:
    • Tên một vị danh tướng thời : Lai một trung thần, dũng tướng dưới quyền Bình Định vương Lợi, nổi tiếng với hành động hy sinh thân mình cứu chúa trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống quân Minh xâm lược.
    • Biểu tượng của lòng trung nghĩa sự hy sinh đại cuộc: Tên ông đã trở thành biểu tượng cho sự trung thành tuyệt đối tinh thần xả thân nghĩa lớn trong lịch sử văn hóa Việt Nam.
dụ sử dụng
  • Danh từ riêng:
    • Lai một trong mười tám người cùng Lợi thềLũng Nhai. ( Lai một trong mười tám người cùng Lợi thềLũng Nhai.)
    • Tấm gương trung nghĩa của Lai được lưu truyền mãi trong sử sách. (Tấm gương trung nghĩa của Lai được lưu truyền mãi trong sử sách.)
    • Nhân dân luôn nhớ ơn công lao to lớn của Lai. (Nhân dân luôn nhớ ơn công lao to lớn của Lai.)
Các cách sử dụng nâng cao
  • "Làm Lai": Thành ngữ ám chỉ hành động hy sinh, liều mình cứu người khác hoặc mục đích cao cả.

    • Trong tình thế nguy cấp, anh ấy đã "làm Lai" để đồng đội rút lui an toàn. (Trong tình thế nguy cấp, anh ấy đã hy sinh thân mình để đồng đội rút lui an toàn.)
  • "Noi gương Lai": Học tập làm theo tấm gương dũng cảm, trung nghĩa của Lai.

    • Chiến sĩ ấy đã noi gương Lai, một mình chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. (Chiến sĩ ấy đã học theo gương Lai, một mình chiến đấu đến hơi thở cuối cùng.)
Biến thể từ gần giống
  • Danh tướng Lai: Cách gọi trang trọng, nhấn mạnh vai trò lịch sử.
  • Trung Túc vương Lai: Tước hiệu truy phong cao quý của ông.
  • Anh hùng Lai: Cách gọi thể hiện sự tôn kính, coi ông biểu tượng anh hùng.
Từ đồng nghĩa (về ý nghĩa biểu tượng)
  • Kỷ Tín: Nhân vật lịch sử Trung Quốc cũng hành động chết thay cho chúa, thường được so sánh với Lai.
  • Trung thần: Người bề tôi hết lòng trung thành.
Thành ngữ liên quan
  • "Hăm mốt Lai, hăm hai Lợi": Câu ca dao phản ánh truyền thống lòng biết ơn của nhân dân, nhắc nhở việc cúng giỗ Lai (21 tháng Tám Âm lịch) trước ngày giỗ Vua Thái Tổ (22 tháng Tám Âm lịch), như lời di nguyện của nhà vua.
    • Theo tục lệ, "hăm mốt Lai, hăm hai Lợi" để tỏ lòng tri ân người đã hy sinh cứu chúa. (Theo tục lệ, cúng giỗ Lai ngày 21 rồi mới đến giỗ Lợi ngày 22 để tỏ lòng tri ân người đã hy sinh cứu chúa.)
Lê Lai

Lê Lai mặc áo giả làm vua, cưỡi voi dẫn quân ra trận.

  1. Danh tướng, sách chép Nguyễn Thân, sau theo phò Lợi, đổi tên Lai. Quê thôn Danh Ta, huyện Thụy Nguyên, tỉnh Thanh Hóa
  2. Thân phụ ông tên Kiều, làm phụ đạo đất Lam Sơn, sinh hai trai, trưởng tên Lạn, thứ ông
  3. Ông theo dưới cờ Bình Định vương Lợi, dũng liệt kháng Minh cứu quốc. Năm Bính thân 1416, tại Lũng Nhai, ông cùng Bình Định vương 17 tướng lãnh tâm phúc thề sống chết nhau, được Lợi trao chức Đô tổng quan, tước Quan Nội Hầu
  4. Năm Mậu tuất 1418, khoảng cuối năm, bị quân Minh vây ngặtvùng Chí Linh, Bình Định vương hỏi các tướng:
  5. - Ai khứng giả dạng ta cầm quân chống nhau với giặc, noi gương Kỷ Tín ngày xưa chết thay cho Hán Cao tổ? Để ta náu dấu nghi binh góp nhặt tướng sĩ lo nổi dậy phục quốc về sau?
  6. Lai tình nguyện xin đi. Bình Định vương cảm khái, khấn với trời đất:
  7. - Lai đại nghĩa xả thân, tôi thề ngày sau chẳng quên ơn ấy, nếu nuốt lời thề thì cung điện thành rừng núi, ấn báu thành đồng, gươm thần thành đao
  8. Lai bèn ăn mặc giả làm vua, đem 500 quân, 2 thớt voi,thẳng tới trại giặc khiêu chiến. Quân Minh vây đánh, ông chiến đấu đến lúc kiệt sức, để cho giặc bắt chịu cho chúng giết
  9. Nhớ ơn công Lai, vua đã cho tìm thây ông từ trước , chôn ở Lam Sơn, khi lên ngôi truy tặng ông Đệ nhất công thần. Năm Kỷ dậu 1429 truy phong Thái úy. Đến đời Nhân tông, Quý hợi 1443, truy tặng Bình Chương quân quốc trọng sự. cho Kim ngù đại kim phù, tước Huyện Thượng Hầu. Đời Thánh tông lại tặng Thái phó, tước Diên Phúc Hầu, truy phong Trung Túc vương
  10. Lai 3 người con , Lộ Lâm đều tiếng trên lịch sử
  11. Đến đời nhà Nguyễn, Gia Long liệt kê ông vào hàng khai quốc công thần đệ nhất triều , cho tìm con cháu ông coi giữ đền thờ
  12. Bình Định vương thường nói":Sau này ta mất đi, khi đến lễ giỗ ta, thì một ngày trước đó phải cúng Lai". Ca dao ta còn truyền tụng" Hăm mốt Lai, hăm hai Lợi"