Nguyễn Cư Trinh
Học thuậtThân thiện
Định nghĩa
- Danh từ riêng:
- Tên một danh sĩ, đại thần thời chúa Nguyễn: Nguyễn Cư Trinh là tên của một nhân vật lịch sử Việt Nam thế kỷ 18, nổi tiếng với tài năng văn võ song toàn và nhiều công lao trong việc mở mang bờ cõi, ổn định chính trị.
Thông tin lịch sử và sự nghiệp
- Thân thế: Tên chữ là Nghi, hiệu Đạm Am. Ông là con út của danh sĩ Nguyễn Đăng Đệ. Tổ tiên gốc ở Nghệ An, sau vào định cư ở Thừa Thiên.
- Khoa cử và quan chức: Đỗ Hương tiến (Cử nhân). Làm quan dưới thời chúa Võ vương Nguyễn Phúc Khoát, giữ đến chức Thượng thư bộ Lại, kiêm Tàu vạn sứ, được phong tước Nghi Biểu Hầu.
- Phẩm chất và tài năng: Nổi tiếng là người liêm chính, giỏi về chính trị, kinh tế (doanh điền) và ngoại giao.
- Công trạng chính:
- Ổn định biên cương: Khi làm Tuần phủ Quảng Ngãi, ông đánh dẹp cuộc nổi dậy ở Đa Vách (1750).
- Mở mang bờ cõi phía Nam: Có công lớn trong việc khai khẩn, lập ấp tại vùng đất Sài Gòn - Gia Định (từ 1753).
- Ngoại giao với Hà Tiên: Giao thiệp và họa thơ với Mạc Thiên Tích, góp phần quan trọng đưa Hà Tiên thần phục chúa Nguyễn.
- Văn nghiệp: Để lại nhiều tác phẩm thơ văn chữ Hán và chữ Nôm, nổi bật có truyện và .
- Qua đời và truy phong: Mất năm 1767, thọ 51 tuổi. Được truy tặng nhiều danh hiệu cao quý như Tá lý công thần, Vinh lộc đại phu. Đến thời vua Minh Mạng, ông được truy tặng là Khai quốc công thần, Hiệp biện đại học sĩ và được thờ ở Thái miếu.
Ví dụ sử dụng
- Trong văn viết lịch sử:
- Nguyễn Cư Trinh là một trong những công thần có công lớn trong công cuộc Nam tiến của các chúa Nguyễn.
- Tài ngoại giao của Nguyễn Cư Trinh thể hiện rõ qua mối quan hệ với Mạc Thiên Tích ở Hà Tiên.
Di sản và vinh danh
- Di sản văn hóa: Tác phẩm của ông là một tác phẩm Nôm có giá trị, phản ánh xã hội đương thời.
- Vinh danh lịch sử: Ông được xem là một Khai quốc công thần của nhà Nguyễn, được hậu thế ghi nhận công lao mở cõi và an dân.
Từ liên quan và khái niệm gần
- Danh sĩ: Chỉ những người học rộng, có đức hạnh và danh tiếng trong giới nho học.
- Công thần: Chỉ những người có công lao to lớn với triều đình, đất nước.
- Nam tiến: Chỉ quá trình mở rộng lãnh thổ của người Việt xuống phía Nam.
- (Bính Tuất 1716 - Đinh Hợi 1767)
- Danh sĩ đời chúa Võ vương Nguyễn Phúc Khoát, tên chữ là Nghi, hiệu Đạm Am, con út danh sĩ Nguyễn Đăng Đệ. Tổ xa đời vốn người huyện Thiên Lộc, tỉnh Nghệ An, sau dời vào xã An Hòa, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên và vốn họ Trịnh
- Ông đỗ hương tiến (Cử nhân) có tài văn võ, làm quan đến Thượng thư bộ Lại, kiêm Tàu vạn sứ, tước Nghi Biểu Hầu, ông nổi tiếng liêm chánh, giỏi việc chính trị, doanh điền, ngoại giao. Khi làm Tuần phủ Quảng Ngãi, ông đánh dẹp cuộc nổi dậy chống triều đình ở Đa Vách (người dân tộc khởi loạn) vào năm Canh Ngọ 1750
- Khi vào miền Nam mở mang bờ cõi, khẩn hoang lập ấp (Quý Dậu 1753), ông có công lớn trong việc mở nước, an dân nhất là tại vùng Sài Gòn Gia Định. Ông giao thiệp đắc thế với Mạc Thiên Tích ở Hà Tiên, họa thơ với các danh sĩ trong nhóm Chiêu Anh Các, khiến họ Mạc trọng vọng, nể phục, đưa đến việc Mạc Thiên Tích thần phục chúa Nguyễn. Năm Đinh Hợi 1767 ông bệnh mất, hưởng dương 51 tuổi, được truy tặng Tá lý công thần, Vinh lộc đại phu, thụy Văn Định
- Thơ văn ông còn truyền tụng nhiều, gồm một số thơ chữ Hán và chữ Nôm, đặc sắc nhất là truyện Sãi Vãi và Độn Am thi tập. Đến đời Minh Mạng, lại truy tặng ông là Khai quốc công thần, Hiệp biện đại học sĩ, đổi tên thụy là Văn Cách, truy phong tước Tân Minh Hầu, cho tòng tự ở Thái miếu