Nguyễn Tất Thành

Học thuật
Thân thiện
Định nghĩa
  1. Danh từ riêng (Tên người):
    • Tên khai sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Nguyễn Tất Thành" tên gọi thời thanh niên của vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tên này thể hiện niềm tin khát vọng về sự thành công, vững vàng của sự nghiệp cứu nước.
dụ sử dụng
  • Danh từ riêng:
    • Nguyễn Tất Thành sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 tại làng Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An.
    • Với lòng yêu nước nồng nàn, Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước vào năm 1911.
Các cách sử dụng nâng cao
  • "Người thanh niên Nguyễn Tất Thành": Cụm từ thường dùng để nhấn mạnh hình ảnh tuổi trẻ đầy nhiệt huyết, quyết tâm của Bác Hồ khi bắt đầu hành trình cứu nước.

    • Hình ảnh người thanh niên Nguyễn Tất Thành trên bến Nhà Rồng mãi mãi biểu tượng của chí khí lý tưởng cao đẹp.
  • "Từ Nguyễn Tất Thành đến Hồ Chí Minh": Cụm từ chỉ hành trình lịch sử, sự phát triển trưởng thành từ một người thanh niên yêu nước trở thành lãnh tụ kiệt xuất của dân tộc.

    • Con đường từ Nguyễn Tất Thành đến Hồ Chí Minh một hành trình vĩ đại tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc.
Biến thể từ liên quan
  • Hồ Chí Minh: Tên gọi cuối cùng nổi tiếng nhất của Người, được sử dụng khi trở về nước lãnh đạo cách mạng trở thành Chủ tịch nước.
  • Nguyễn Ái Quốc: danh nổi tiếng trong thời gian hoạt độngnước ngoài, có nghĩa là "Nguyễn yêu nước".
  • Nguyễn Sinh Cung: Tên lúc nhỏ của Người.
  • Bác Hồ: Cách gọi thân thương, trìu mến của nhân dân Việt Nam.
Từ đồng nghĩa / Cách gọi khác
  • Vị lãnh tụ kính yêu: Cách gọi tôn kính.
  • Người cha già của dân tộc: Cách gọi hình tượng, thể hiện lòng kính trọng biết ơn sâu sắc.
Thành ngữ, tục ngữ, câu nói liên quan
  • "Không quý hơn độc lập, tự do": Câu nói nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thể hiện tư tưởng xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người.
  • " lợi ích mười năm thì phải trồng cây, lợi ích trăm năm thì phải trồng người": Một luận điểm quan trọng của Hồ Chí Minh về chiến lược con người giáo dục.
  1. (Canh dần 1890 - Kỷ Dậu 1969)
  2. Tức Chủ tịch Hồ Chí Minh, Lãnh tụ Cách mạng Việt Nam, người sáng lập Đảng cộng sản đông dương, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Lúc nhỏ tên Nguyễn Sinh Cung. Trong nhiều năm hoạt động Cách Mạng lấy tên Nguyễn ái Quốc nhiều tên khác ( Thụy, Anh Ba, Vương Sơn Nhi, Chàng Vương, Tống Văn , Hồ Quang, Thầu Chín). Con chí Nguyễn Sinh Huy (Nguyễn Sinh Sắc) Hoàng Thị Loan, sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 tại làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. ( sách chép năm sinh năm 1892 hay 1894 như Trần trọng Kim, tiến sĩ Smith - Giáo sư Đại học Luân Đôn -Anh)
  3. Xuất thân trong một gia đình Nho học yêu nước, thuở nhỏ thông minh, hiếu học. Đến tuổi thiếu niên theo thân phụ vào Huế học tại Trường tiểu học Đông Ba, trường trung học Quốc học. Đầu năm 1911 Người bỏ học với ý định ra nước ngoài tìm đường cứu nước. trên đường vào Sài Gòn Người ghé Phan Thiết (thủ phủ tỉnh Bình Thuận), dạy học một thời gian ngắn tại Trường Dục Thanh do các nhà yêu nước lập ra. Sau Người vào Sài Gòn lấy tên Ba làm phụ bếp cho tàu buôn Amiral Latouche Tréville, rồi sang Pháp tìm hiểu tình hình thế giới. Tại đây Người liên lạc mật thiết với nhà yêu nước Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường ... đến các nước Anh, Đức, Mỹ một thời gian. Năm 1917, ông tham gia Đảng xã hội Pháp, lập Hội những người Việt Nam yêu nước để tuyên truyền giác ngộ Việt kiều ở Pháp. Năm 1918 Người cùng các nhà yêu nước khác gửi đến hội nghị Versailles một yêu sách gồm 8 điểm đòi tự do, dân chủ quyền bình đẳng của người Việt nam với tên Nguyễn A_i Quốc. Năm 1921. Ông tham gia Đảng Cộng sản Pháp. Tại Đại hội lần thứ 2 của Đảng Cộng sản Pháp (1923) ông được cử tham gia Chủ tịch đoàn Đại hội. ở đây ông các đồng chí khác xuất bản tờ báo Le Paria (Người cùng khổ) Người làm chủ nhiệm kiêm chủ bút. Cuối năm 1923 Người sang Liên với tư cách đại biểu của nông dân các nước thuộc địa. Tại hội nghị Quốc tế nông dân Người được bầu vào Ban chấp hành Quốc tế nông dân. trong thời gian này Người làm việc ở Quốc tế Cộng sản viết bài cho các báo Sự thật, Thư Tín Quốc tế. Cuối năm 1924, ông về Quảng Châu (Trung quốc) với tên Thụy công tác trong phái đoàn Brodine (cố vấn của Liên bên cạnh chính phủ Quốc dân đảng Trung quốc). Tại đây ông sáng lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội tập hợp các nhà yêu nướcnước ngoài tham gia thành lập Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở á đông. Năm 1927 sau vụ khởi nghĩa Quảng Châu Người đi Liên , Bỉ, Đức, Thụy , ... Giữa năm 1928 Người về hoạt độngThái Lan xuất bản báo thân ái. Các năm 1930 -1931, tuynước ngoài ông vẫn chỉ đạo thực hiện phong trào Xô ViếtNghệ Tĩnh các tỉnh khác. Tháng 6-1932 Người bị mật thám Anh bắt tại hương cảng, đến đầu năm 1933 mới được trả tự do, sau đó Người trở lại Liên học tại trường Đại học Lénine. Năm 1938 Người về hoạt động ở Quảng Tây (Trung quốc) trong đơn vị Bát lộ quân Trung Quốc, đầu năm 1939 Cụ liên lạc lại với ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương qua xứ ủy Bắc . Cuối năm 1940 Người về nước, lập căn cứ ở Pác (nay thuộc tỉnh Cao Bằng) đào tạo cán bộ trực tiếp chỉ đạo công tác xây dựng các hội Cứu quốc ở các địa phương để chuẩn bị Tổng khởi nghĩa. Tháng 8 năm 1942 Người lấy tên Hồ Chí Minh rồi trở sang Trung Quốc liên lạc với các tổ chức cách mạng của người Việt namđó. Vừa đến biên giới thì bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt giam một năm. Trong thời gian ngồi tù cụ viết tập thơ Ngục trung nhật ký (Nhật ký trong ). Tháng 9 năm 1943, sau khi được trả tự do, Người tiếp xúc với các tổ chức chống Pháp - Nhật của người Việt namLiễu Châu, bắt liên lạc được với Đảng rồi trở về nước lãnh đạo cách mạng. Cuối năm 1944 Cụ thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân lập Khu giải phóng Việt Bắc chuẩn bị tổng khởi nghĩa. Ngày 16-8-1945 Người chủ tọa Hội nghị Quốc dân toàn quốc (Quốc dân đại hội). Tại Đại hội người được bầu làm chủ tịch. Ngày 25-8-1945 Cụ về Nội chủ tọa phiên họp của Tổng bộ Việt Minh thành lập chính phủ lâm thời
  4. Ngày 2-9-1945 tại Quảng trường Ba Đình Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt chính phủ đọc bản Tuyên ngôn độc lập do Người viết, tuyên bố thành lập nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa chấm dứt chính quyền phong kiến, thực dân ngự trị lâu dài trên đất nước Việt Nam. Đến ngày 19-12-1946 do sự khiêu khích của thực dân Pháp Chủ tịch ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống Pháp. Cuộc kháng chiến kéo dài đến năm 1954- với chiến thắng ở Điện Biên Phủ - quân Pháp bị bắt buộc hiệp định Genève rút quân ra khỏi Việt Nam. Đầu năm 1955 Chủ tịch từ chiến khu Việt Bắc trở về Nội trước sự đón tiếp tưng bừng của nhân dân thủ đô. Các năm 1957 -1960 Chủ tịch đi thăm các nước Xã hội Chủ nghĩa nhằm thắt chặt tình hữu nghịvà tổng kết vấn đề chiến lược của Cách mạng thế giới. Sau khican thiệp vào miền nam chiến tranh xảy ra ác liệt, ở cả hai miền, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập hội nghị chính trị đặc biệt (27-3-1964) nhằm tăng cường khối đoàn kết toàn dân thực hiện thắng lợi cho cách mạng
  5. Trong những năm cuối đời, sức khỏe giảm sút, Cụ vẫn sáng suốt lãnh đạo nhân dân xây dựng kháng chiến. Ngày 2-9-1969 (lúc 9 giờ 47 phút) Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần tại Nội hưởng thọ 79 tuổi để lại sự thương tiết khôn nguôi trong lòng toàn thể nhân dân Việt nam. Trước khi về thế giới bên kia Chủ tịch lời "Di chúc: về việc riêng " Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi tức là "hỏa táng" (...) Tro thì chia làm 3 phần, bỏ vào 3 cái hộp sành. Một hộp cho miền Bắc. Một hộp cho miền Trung. Một hộp cho miền nam. Đồng bào mỗi miền nên chọn một quả đồi chôn hộp tro đó. Trên không nên bia đá, tượng đồng nên xây một ngôi nhà đơn giản, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ, để cho những người đến thăm viếng chỗ nghĩ ngơi". Trong lễ Quốc tang Chủ tịch, Ban chấp hành trung ương Đảng Lao động Việt Nam điếu bài " Điếu văn" trong đó đoạn: " Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ Tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại chính Người làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta non sông đất nước ta". Một tác giả khuyết danh - trước đâySài Gòn - trân trọng điếu cụ: " Thế giới đạo tiền trình, Âu á kimhậu bối; Vĩ nhân tân xã hội, Liệt chi hậu hữu tiên sinh". Nghĩa: Vạch ra con đường lên thế giới mới xưa nay Âu á chưa từng như người; Vĩ nhân của xã hội mới, sau Các mác, Nin chỉ người mà thôi
  6. Ngoài một nhà cách mạng, chủ tịch Hồ Chí Minh còn một nhà văn, một nhà lý luận sáng giá. Cụ còn để lại đời các tác phẩm nổi tiếng: "Đường Kách mệnh, Bản án chế độ thực dân Pháp, Con rồng tre, Nhật trong , Tuyên ngôn độc lập, Sửa đỗi lề lối làm việc. một số lớn thơ văn khác