Đoàn Thị Điểm

Học thuật
Thân thiện
Đoàn Thị Điểm

Đoàn Thị Điểm ngồi đọc sách trong thư phòng.

Định nghĩa
  1. Danh từ riêng:
    • Tên một nữ sĩ nổi tiếng thời trung hưng (thế kỷ 18): Đoàn Thị Điểm một nhà thơ, nhà văn nữ tài hoa trong lịch sử văn học Việt Nam, hiệu Hồng nữ sĩ.
    • Tác giả của "Truyền kỳ tân phả" (còn gọi là "Tục truyền kỳ"): được biết đến tác giả của một tập truyện truyền kỳ viết bằng chữ Hán, ghi chép những câu chuyện kỳ lạ.
dụ sử dụng
  • Danh từ riêng:
    • Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm sống vào thế kỷ 18.
    • Tương truyền, Đoàn Thị Điểm người dịch "Chinh phụ ngâm" của Đặng Trần Côn ra chữ Nôm.
    • "Truyền kỳ tân phả" tác phẩm nổi tiếng nhất của Đoàn Thị Điểm.
Các cách sử dụng nâng cao
  • "Giai thoại về Đoàn Thị Điểm": chỉ những câu chuyện, giai thoại trong dân gian xoay quanh cuộc đời tài năng của .
    • nhiều giai thoại về Đoàn Thị Điểm kể về tài ứng đối văn chương của .
  • "Thơ văn Đoàn Thị Điểm": chỉ toàn bộ sáng tác thơ văn được cho của .
    • Thơ văn Đoàn Thị Điểm thể hiện tài năng tâm hồn phóng khoáng của một nữ sĩ.
Biến thể từ gần giống
  • Hồng nữ sĩ (Danh từ riêng): Hiệu (tên tự) của Đoàn Thị Điểm, thường được dùng để chỉ trong các văn bản, thơ văn.
    • Hồng nữ sĩ nổi tiếng với tài văn chương.
  • Điểm (Danh từ riêng): Cách gọi thân mật, kính trọng đối với Đoàn Thị Điểm.
    • Theo sử sách, Điểm từ chối nhiều lời cầu hôn.
Từ đồng nghĩa
  • Nữ sĩ họ Đoàn: Cách gọi trang trọng, nhấn mạnh họ tên danh hiệu.
  • Tác giả "Truyền kỳ tân phả": Cách gọi xác định qua tác phẩm tiêu biểu.
Các cụm từ (phrasal verbs) liên quan

(Không áp dụng cho danh từ riêng chỉ tên người)

Thành ngữ liên quan

(Không thành ngữ phổ biến trực tiếp chứa tên riêng "Đoàn Thị Điểm")

Đoàn Thị Điểm

Đoàn Thị Điểm ngồi đọc sách trong thư phòng.

  1. (ất dậu 1705 - Bính dần 1746)
  2. Nữ sĩ, hiệu Hồng nữ sĩ, con Đoàn Doãn Nghi thị, em danh Đoàn Doãn Luân
  3. Tổ quán vốn Hiến Phạm, huyện Văn Giang, xứ Kinh Bắc (tỉnh Bắc Ninh). Sau, mẹ vềvới anhhuyện Đường Hào, tỉnh Hải Dương (nay Hải Hưng)
  4. Năm 16 tuổi, Thượng thư Anh Tuấn muốn xin làm con nuôi để tiến vào làm phi tần trong cung, nhưng chỉít lâu xin về. Cùng với anh cần cù học tập trở nên người sành văn chương
  5. kén chồng, cha mất, đã 25 tuổi, vẫn chưa đính hôn với ai. Mãn tang cha, công tử làng Hoạch Trạch Nhữ Đình Toản Thượng thưlàng Kim ân cần nhờ mối giạm hỏi, đều từ chối
  6. Người anh mất, đảm nhận gánh nặng gia đình. Bấy giờ, người làng Sài Trang, huyện Đường Hào con gái tiến cung, đón vào cungdạy nàng cung tần ấy
  7. Năm Kỷ tị 1739, trong nước loạn lạc, chợ An Bình làngthử bị tàn phá, từ chức giáo thụcung cấm, về ngụ Chương Dương dạy học
  8. Sau lập gia đình với Tiến sĩ Nguyễn Kiều, người làng Phú , huyện Từ Liêm. Ngày chồng lên đường đến nhiệm sở mới (ở Nghệ An) mất nhằm ngày 11-9 năm Bính dần 1746
  9. Tương truyền chính đã phiên dịch khúc ngâm chinh phụ của Đặng Trần Côn (nhưng cũng sách cho rằng bản dịch đó của Phan Huy ích). Điều biết chắc chắn giỏi văn chương, nhiều thơ văn xướng họa với anh, với chồng khá nhiều, nhưng phần lớn đã thất lạc. Duy còn một bản Tục truyền cũng gọi là Truyền tân phả (để phân biệt với Truyền mạn lục của Nguyễn Dữ)
  10. Theo Phan Huy Chú (Lịch triều hiến chương loại chí quyển 45) tập truyện Tục truyền gồm 6 truyện: Bích câu ngộ, Hải khẩu linh từ, Vân cát thần nữ, Hoành sơn tiên cuộc, An ấp liệt nữ, Nghĩa khuyển khuất miêu
  11. Nhưng trong Nam sử tập biên quyển 5 (1724) quả quyết Điểm chỉ 3 truyện:
  12. - Hải khẩu linh từ (tức chuyện nữ thần Chế Thắng)
  13. - Vân Cát thần nữ (Liễu Hạnh công chúa)
  14. - An ấp liệt nữ (chuyện Phan thị, vợ thứ của Đinh Nho Hoàn)