Bá Di, Thúc Tề
Học thuậtThân thiện
Định nghĩa
- Danh từ riêng:
- Hai nhân vật lịch sử Trung Quốc thời cổ đại: "Bá Di, Thúc Tề" là tên của hai anh em, con trai vua nước Cô Trúc, một chư hầu của nhà Ân. Họ được biết đến như những bậc hiền nhân có lòng trung thành tuyệt đối với triều đại cũ và tấm gương về đạo đức, khí tiết.
- Biểu tượng của lòng trung thành và khí tiết: Cụm từ này thường được dùng để chỉ những người có lòng trung thành kiên định, không chịu khuất phục trước thế lực mới, thà chết đói chứ không thay đổi chí hướng.
Ví dụ sử dụng
- Danh từ riêng:
- Tấm gương Bá Di, Thúc Tề được sử sách ca ngợi. (Tấm gương của Bá Di, Thúc Tề được sử sách ca ngợi.)
- Lòng trung thành của Bá Di, Thúc Tề đối với nhà Ân là bất diệt. (Lòng trung thành của Bá Di, Thúc Tề đối với nhà Ân là bất diệt.)
Các cách sử dụng nâng cao
"Khí tiết Bá Di, Thúc Tề": Chỉ sự cứng cỏi, kiên trung, không chịu khuất phục, thà chết chứ không thay lòng đổi dạ.
- Ông ấy có khí tiết Bá Di, Thúc Tề, không bao giờ chịu hợp tác với kẻ thù. (Ông ấy có khí tiết Bá Di, Thúc Tề, không bao giờ chịu hợp tác với kẻ thù.)
"Theo gương Bá Di, Thúc Tề": Hành động noi theo tấm gương trung thành, giữ vững khí tiết của hai người này.
- Nhiều nho sĩ thời loạn đã theo gương Bá Di, Thúc Tề, không ra làm quan cho triều đại mới. (Nhiều nho sĩ thời loạn đã theo gương Bá Di, Thúc Tề, không ra làm quan cho triều đại mới.)
Biến thể và từ gần giống
Di, Tề: Cách gọi tắt, thân mật hoặc trong thơ văn để chỉ hai nhân vật này.
- Chí Di, Tề sánh với non cao. (Chí của Di, Tề sánh với non cao.)
Ẩn sĩ núi Thú Dương: Cách gọi khác dựa trên nơi hai ông ở ẩn và qua đời.
- Gương ẩn sĩ núi Thú Dương còn truyền mãi. (Tấm gương ẩn sĩ núi Thú Dương còn truyền mãi.)
Từ đồng nghĩa
- Trung thần nghĩa sĩ: Bề tôi trung thành, người có nghĩa khí (nghĩa rộng, không chỉ riêng Bá Di, Thúc Tề).
- Bậc hiền nhân trung liệt: Người hiền đức, trung thành và tiết liệt.
Thành ngữ liên quan
"Thà làm Bá Di, Thúc Tề chết đói trên núi, không thay lòng đổi dạ": Thành ngữ nhấn mạnh sự lựa chọn giữ vững khí tiết, nguyên tắc đến cùng, dù phải chịu cảnh khốn cùng.
- Trong cơn biến loạn, ông ta thà làm Bá Di, Thúc Tề chết đói trên núi, không thay lòng đổi dạ. (Trong cơn biến loạn, ông ta thà làm Bá Di, Thúc Tề chết đói trên núi, không thay lòng đổi dạ.)
"Ăn rau vi núi Thú Dương": Ám chỉ cuộc sống ẩn dật, thanh bần, giữ trọn đạo trung của hai ông.
- Cuộc sống ăn rau vi núi Thú Dương của các cụ là biểu tượng của sự trong sạch. (Cuộc sống ăn rau vi núi Thú Dương của các cụ là biểu tượng của sự trong sạch.)
- Bá Di, Thúc tề là 2 con vua Cô Trúc, chư hầu của nhà ân. Vua Cô Trúc muốn Thúc Tề nối ngôi nhưng khi vua mất, Thúc Tề nhường ngôi cho Bá Di, Bá Di không nhận bèn bỏ đi nơi khác. Thúc Tề cũng bỏ nước mà đi, người trong nước phải lập con thứ lên thay. Bá Di, Thúc Tề nghe tiếng Tây Bá (Tức Chu Văn Vương) là người hiền nên mới theo về với ông ta. Đến khi Tây Bá chết, Vũ Vương dùng mộc chủ Văn Vương kéo quân sang đánh Trụ. Bá Di, Thúc tề ghìm cương ngựa can, cho đó là việc làm bất nhân. Khi vua Vũ diệt xong nhà ân (vua Trụ), dựng nghiệp nhà Chu, Bá Di và Thúc Tề lấy việc nước mất làm xấu hổ mới bỏ đi ở ẩn ở núi Vũ Vương, hái rau vi mà ăn chứ không ăn thóc nhà Chu. Đến ngày đói gần chết, mới làm bài hát lời rằng: "Đăng bỉ tây sơn hề, thái kỳ vị hỉ ! dĩ bạo dịch bạo hề bất tri kỳ phi hi ! Thần nông ngụ hạ hốt yên một hề, ngã an thích quy hỉ ! Vu ta tồ hề mệnh chi suy hỉ." (Ta lên núi Tây sơn (tức núi thú Dương) này hái khóm rau vi ! tôi bạo ngược thay chúa bạo ngược, không biết điều trái của mình ! Đạo nhường nhau từ đời Thần nông Ngu Hạ bổng mất hẳn, ta thư thái mà chết, thật mệnh ta suy). Cả hai người đều chịu chết đói trên núi Thú Dương. (Sử ký quyển 61, Thông Chí quyển 177...)