Đào Duy Từ

Học thuật
Thân thiện
Đào Duy Từ

Ông Đào Duy Từ đang nghiên cứa binh thư trong thư phòng.

Định nghĩa
  1. Danh từ riêng:
    • Tên một nhân vật lịch sử Việt Nam: Đào Duy Từ một danh thần, nhà quân sự, chính trị văn hóa nổi tiếng dưới thời chúa Nguyễn ở Đàng Trong (thế kỷ 16-17). Ông công lớn trong việc giúp chúa Nguyễn củng cố thế lực, mở mang bờ cõi đối đầu với chúa Trịnh ở Đàng Ngoài.
Thông tin chi tiết
  • Thân thế: Ông sinh năm Nhâm Thân (1572) tại làng Hoa Trai, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa. Cha ông Đào Hán, xuất thân từ nghề ca hát, khiến ông bị luật lệ cấm không được dự thi cử.
  • Sự nghiệp: Bất đắc chí ở Đàng Ngoài, ông vào Nam theo phò chúa Nguyễn Phúc Nguyên (chúa Sãi). Được chúa trọng dụng, phong làm Nội tán, ông đã cống hiến nhiều kế sách quan trọng về quân sự, chính trị.
  • Công lao nổi bật:
    • Chủ trương chỉ huy việc đắp hai lũy Trường Dục (1630) lũy Nhật Lệ/Định Bắc trường thành (1631) ở Quảng Bình nhằm phòng thủ, ngăn chặn quân Trịnh, dân gian gọi là "lũy Thầy".
    • Để lại các tác phẩm giá trị như binh thư Hổ trướng khu các khúc ngâm Ngọa Long cương văn, Tư Dung văn.
  • Vinh danh: Ông mất ngày 17 tháng 10 năm Giáp Tuất (1634), thọ 62 tuổi. Được phong tặng nhiều chức tước cao quý như Lộc Khê Hầu, sau này được triều Nguyễn truy phong tước Hoằng Quốc Công.
dụ sử dụng
  • Danh từ riêng:
    • Đào Duy Từ được sử sách ghi nhận một bậc khai quốc công thần của các chúa Nguyễn.
    • Tài năng quân sự của Đào Duy Từ thể hiện qua việc xây dựng hệ thống lũy Trường Dục.
    • Hậu thế thường tài năng của Đào Duy Từ với Gia Cát Lượng bên Trung Quốc.
Các cách sử dụng nâng cao
  • "Tài như Đào Duy Từ": Cụm từ dùng để von, ca ngợi một người tài năng quân sự, chính trị xuất chúng, mưu lược sâu sắc.
    • Vị tướng ấy mưu lược, thật đúng "tài như Đào Duy Từ".
  • "Lũy Thầy Đào Duy Từ": Cách gọi dân gian để chỉ hệ thống phòng thủ do ông xây dựng, biểu tượng cho sự kiên cố tầm nhìn chiến lược.
    • "Lũy Thầy Đào Duy Từ" một di tích lịch sử quan trọng ở Quảng Bình.
Biến thể từ liên quan
  • Lộc Khê Hầu: Tước hiệu được phong cho Đào Duy Từ.
  • Hoằng Quốc Công: Tước hiệu truy phong cho ông dưới triều vua Minh Mạng.
  • Nội tán: Chức quan của ông trong phủ chúa Nguyễn.
  • Hổ trướng khu : Tên bộ binh thư do ông soạn thảo.
Từ đồng nghĩa / Cách gọi tương đương
  • Danh thần thời chúa Nguyễn.
  • Bậc khai quốc công thần họ Nguyễn.
  • Lộc Khê Hầu (dùng như một danh xưng).
Thành ngữ, câu đối, thơ ca liên quan
  • "Kim Thành thiết lũy sơn hà tráng / Nghĩa sĩ trung thần sự nghiệp lưu" (Thành đồng lũy sắt non sông vững / Tớ nghĩa tôi trung sự nghiệp còn): Câu thơ ca ngợi công lao dựng lũy sự nghiệp trung nghĩa của ông.
  • "Bốt tàm danh hi Gia Cát" (Lộc Khê sánh được tài Gia Cát): Câu thơ tài năng của ông với Gia Cát Lượng.
  • "Nhất tự hải sơn lũy tráng, / Lộc Khê di liệt đáo kim trường" (Từ lũy Thầy non bể vững, / Lộc Khê công nghiệp để lâu dài): Thơ của Tùng Thiện Vương ca ngợi sự nghiệp lâu dài của Đào Duy Từ.
Đào Duy Từ

Ông Đào Duy Từ đang nghiên cứa binh thư trong thư phòng.

  1. (Nhâm Thân 1572 - Giáp Tuất 1634)
  2. Danh thần thời chúa Nguyễn lập nghiệp mở mang bờ cõi về phía Nam, quê làng Hoa Trai, huyện Ngọc Sơn, phường Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa
  3. Ông thông kinh sử, tinh thâmsố binh thư đồ trận. Nhưng thân phụ ông Đào Hán xuất thân quản giáp trong nghề ca hát luật lệ thì nghiêm cấm không cho con nhà xướng ca ra thi cử, nên ông không tiến thân được. Bất đắc chí ông bỏ Đông Kinh ( Nội) lần vào miền Nam, định theo phò chúa Nguyễn
  4. Trong lúc bơ vơ nơi phủ Hoài Nhơn (nay phủ Bồng Sơn) tỉnh Bình Định, ông tạm khuất thânẩn, chăn trâu cho nhà giàu Chúc Trịnh Long ở thôn Tòng Châu
  5. Tăm tiếng ông dần dần được sĩ phu biết đến, KhánTrần Đức HòaQui nhơn mến tài, gả con gái cho ông tiến cử lên chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên
  6. Được chúa Sãi trọng dụng phong Nội tán, ông tận tụy giúp chúa Nguyễn về quân sự, chính trị văn hóa, đương đầu với chúa Trịnh đến thắng lợi
  7. Năm Canh Ngọ 1630, ông xướng xuất việc đắp lũy Trường Dụchuyện Phong Lộc, tỉnh Quảng Bình
  8. Qua năm sau (Tân vị 1631), ông lại đắp thêm một lũy nữa từ cửa bể Nhật Lệ đến núi Đâu Mâu (ở Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình), cao một trượng, dài hơn 200 trượng (tục gọi là lũy Thầy. Đến đời Thiệu Trị mang tên "Định Bắc trường thành")
  9. Năm Giáp Tuất 1634, ngày 17-10 ông mất thọ 62 tuổi, được phong tặng hàm Tán trị dực vận công thần, Kim tử vinh lộc đại phu, Đạitự khanh, tước Lộc Khê Hầu. Đến triều Minh Mạng, truy phong tước Hoằng Quốc Công
  10. Đào Duy Từ còn để lại một bộ binh thư: Hổ trướng khu hai khúc ngâm: Ngọa Long cương văn, Tư Dung văn
  11. Người sau khen ngợi ông:
  12. Kim Thành thiết lũy sơn hà tráng
  13. Nghĩa sĩ trung thần sự nghiệp lưu
  14. Dịch:
  15. Thành đồng lũy sắt non sông vững
  16. Tớ nghĩa tôi trung sự nghiệp còn
  17. :
  18. Bốt tàm danh hi Gia Cát
  19. Dịch:
  20. Lộc Khê sánh được tài Gia Cát
  21. Tùng Thiện Vương ca ngợi:
  22. Nhất tự hải sơn lũy tráng,
  23. Lộc Khê di liệt đáo, kim trường
  24. Dịch
  25. Từ lũy Thầy non bể vững
  26. Lộc Khê công nghiệp để lâu dài
  27. Khúc ngâm Ngọa long cương dài 136 câu lục bát, từ lâu nay đã được phổ biến rộng trong lịch sử văn học
  28. Ông một trong những danh nổi tiếng nhất của nước ta vào thời cận đại