Đinh Bộ Lĩnh

Học thuật
Thân thiện
Đinh Bộ Lĩnh

Đinh Bộ Lĩnh cùng các bạn chăn trâu lấy bông lau làm cờ, bày trận giả đánh nhau trên đồng cỏ.

Định nghĩa
  1. Danh từ riêng:
    • Tên hiệu của vị vua sáng lập triều đại nhà Đinh trong lịch sử Việt Nam: "Đinh Bộ Lĩnh" tên gọi phổ biến của Đinh Tiên Hoàng (Đinh Hoàn), người công dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước lập ra nhà nước Đại Cồ Việt.
    • Một nhân vật lịch sử quan trọng: Tên gọi này chỉ một anh hùng dân tộc, từng một thiếu niên chăn trâu tài thao lược, sau trở thành vị hoàng đế đầu tiên của nước Việt Nam thời kỳ độc lập tự chủ sau thời Bắc thuộc.
dụ sử dụng
  • Danh từ riêng:
    • Đinh Bộ Lĩnh người công thống nhất giang sơn, lập nên nhà nước Đại Cồ Việt.
    • Truyền thuyết kể rằng thuở nhỏ, Đinh Bộ Lĩnh thường lấy bông lau làm cờ để tập trận với bạn .
    • Sau khi dẹp yên các sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu Đinh Tiên Hoàng.
Các cách sử dụng nâng cao
  • "Công lao của Đinh Bộ Lĩnh": Thường dùng để nói về sự nghiệp thống nhất đất nước xây dựng nền móng cho một quốc gia độc lập.

    • Công lao của Đinh Bộ Lĩnh được sử sách ghi nhận nhân dân đời đời tôn kính.
  • "Thời đại Đinh Bộ Lĩnh": Cụm từ chỉ giai đoạn lịch sử gắn liền với sự nghiệp của ông, từ khi dẹp loạn đến khi trị vì đất nước.

    • Thời đại Đinh Bộ Lĩnh đánh dấu bước chuyển mình quan trọng của dân tộc.
Biến thể từ liên quan
  • Đinh Tiên Hoàng: Đây miếu hiệu (tên gọi tôn kính sau khi mất) của Đinh Bộ Lĩnh.

    • Đền thờ Đinh Tiên Hoàng tọa lạc tại cố đô Hoa , Ninh Bình.
  • Đinh Hoàn: Đây tên thật của Đinh Bộ Lĩnh.

    • Đinh Hoàn tên khai sinh, còn Đinh Bộ Lĩnh tước hiệu ông được phong khi theo phò sứ quân Trần Lãm.
  • Vạn Thắng Vương: Tôn hiệu quân sĩ nhân dân suy tôn ông trước khi lên ngôi hoàng đế.

    • Với tài thao lược, ông được tôn Vạn Thắng Vương.
Từ đồng nghĩa / Cách gọi khác
  • Đức Vua Đinh: Cách gọi tôn kính, trang trọng.
  • Người anh hùng Áo Vải: Biểu tượng cho xuất thân bình dân nhưng lập nên nghiệp lớn (gắn với hình ảnh thuở nhỏ chăn trâu).
Thành ngữ, tục ngữ liên quan
  • "Cờ lau tập trận": Thành ngữ xuất phát từ giai thoại thuở nhỏ của Đinh Bộ Lĩnh, dùng để việc luyện tập, chuẩn bị từ nhỏ hoặc trong hoàn cảnh thiếu thốn.

    • Câu chuyện cờ lau tập trận của Đinh Bộ Lĩnh bài học về ý chí sự rèn luyện.
  • "Dẹp loạn mười hai sứ quân": Cụm từ gắn liền với sự nghiệp vĩ đại nhất của ông, trở thành biểu tượng của tài năng quân sự ý chí thống nhất.

    • Sử sách ca ngợi chiến công dẹp loạn mười hai sứ quân của Đinh Bộ Lĩnh.
Đinh Bộ Lĩnh

Đinh Bộ Lĩnh cùng các bạn chăn trâu lấy bông lau làm cờ, bày trận giả đánh nhau trên đồng cỏ.

  1. (ất dậu 925 - Kỷ mão 979)
  2. Thủy tổ nhà Đinh, ông vốn họ Đinh, tên Hoàn, Bộ Lĩnh tước quan của sứ quân Trần Lãm phong cho, quêđộng Hoa , châu Đại Hoàng (nay huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình), con quan Thứ sử Châu Hoan (Nghệ An) về đời Dương Diên Nghệ Đinh Công Trứ
  3. Cha mất sớm, ông theo mẹ Đàm thị về quê, nương thân với chú ruột Đinh Dự, ở chăn trâu. Thường nhóm họp bạn lấy lau làm cờ, lập trận đánh nhau, ông tỏ ra tài chỉ huy. Kết bạn rất thân với Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Lưu Trịnh
  4. Bị người chú ghét đuổi đi, ông sang đầu quân trong đạo binh của sứ quân Trần Lãm ở Bố hải khẩu. ít lâu, được Trần Lãm mến tài con cho, ông càng vững bước trên đường sự nghiệp
  5. Không bao lâu, Trần Lãm mất, ông đem quân về giữ Hoa , chiêu mộ hào kiệt, hùng cứ một phương, chống nhà Ngô các sứ quân khác
  6. Năm ất sửu 965 Nam Tấn vương Xương Văn mất, con Xươngnối nghiệp, quá suy yếu phải về đóng giữ đất Bình Kiều (thuộc Hưng Yên). Ông thừa thế hưng binh đánh lớn, chỉ trong một năm dẹp yên được các sứ quân. Được xưng tụng Vạn Thắng vương
  7. Năm Mậu thìn 968 ông lên ngôi vua, tôn hiệu Đại Thắng Minh, đặt hiệu nước Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa
  8. Năm Canh ngọ 970, bắt đầu đặt hiệu năm Thái Bình. Ông truyền cho đúc tiền đồng tiền tệ xưa nhấtnước ta, gọi là tiền đồng" Thái Bìn"h. Ông công lớn trong việc thống nhất đất nước nhưng về chính trị trong nước lại phần quá thiên về sử dụng hình phạt nghiêm khắc
  9. Năm Quý dậu 973 ông sai con Nam Việt vương Liễn sang cống nhà Tống, được nhà Tống phong ông làm Giao Chi Quận vương
  10. Đến năm Kỷ mão 979, ông con Đinh Liễn bị tên hầu cận Đỗ Thích ám sát chết. ở ngôi 12 năm (968-979), thọ 56 tuổi, tángnúi Yên, Trường An thượng, huyện Gia Liễn, tỉnh Ninh Bình, đền thờ ông cũng xây dựng gần đấy
  11. Con thứ của ông Đinh Tuệ nối ngôi, chỉ non một năm thì bị Hoàn lật đổ, cơ nghiệp nhà Đinh dứt (X. Hoàn)