Hốt họ Đoàn
Học thuậtThân thiện
Định nghĩa
- Danh từ:
- Hành động dũng cảm, trung nghĩa, sẵn sàng hy sinh để chống lại kẻ phản nghịch: "Hốt họ Đoàn" là một thành ngữ cố định trong tiếng Việt, xuất phát từ điển tích lịch sử Trung Quốc, dùng để ca ngợi hành động cầm hốt (một loại thẻ bài bằng ngà voi hoặc tre mà quan lại thời xưa cầm khi chầu vua) đánh vào kẻ phản loạn của Đoàn Tú Thực. Thành ngữ này biểu thị khí tiết anh hùng, lòng trung thành tuyệt đối và sự dũng cảm xả thân vì đại nghĩa.
Ví dụ sử dụng
- Danh từ (Thành ngữ):
- Tấm gương "hốt họ Đoàn" của ông ấy mãi mãi được sử sách lưu danh. (Hành động trung nghĩa dũng cảm của ông ấy mãi mãi được sử sách ghi lại.)
- Trong buổi họp, ông ta đã có một hành động "hốt họ Đoàn", công khai lên án những kẻ tham nhũng. (Trong buổi họp, ông ta đã có một hành động dũng cảm, công khai lên án những kẻ tham nhũng.)
Các cách sử dụng nâng cao
- Thành ngữ này thường được dùng trong văn chương, sử sách hoặc trong các bài diễn văn mang tính trang trọng, ca ngợi để ví von về lòng trung thành và dũng khí.
- Có thể dùng để miêu tả một hành động phản kháng mạnh mẽ, quyết liệt và đầy khí phách trước cái xấu, cái ác.
Biến thể và từ gần giống
- Không có biến thể trực tiếp. Đây là một thành ngữ cố định.
- Từ gần giống (về nghĩa):
- Trung liệt: trung thành và tiết liệt.
- Khẳng khái: cứng cỏi, mạnh mẽ và hào hiệp.
- Nghĩa khí: khí phách của người trượng phu coi trọng đạo nghĩa.
Từ đồng nghĩa
- Hành động anh hùng: hành động dũng cảm, phi thường.
- Hành động trung nghĩa: hành động xuất phát từ lòng trung thành và chính nghĩa.
- Khí tiết hiên ngang: phẩm chất cứng cỏi, không khuất phục.
Các cụm từ (phrasal verbs) liên quan
- Không áp dụng. Đây là một thành ngữ danh từ cố định, không phải động từ.
Thành ngữ liên quan
- Lưu phương hậu thế: để tiếng thơm cho đời sau (thường dùng chung để nói về công đức, khí tiết).
- Gương sáng ngàn thu: tấm gương sáng mãi muôn đời.
- Xả thân vì nghĩa: hy sinh thân mình vì việc nghĩa.
- Tục thông chí: Đoàn Tú Thực người đất Khiên Dương đời Đường, tự Thành Công. Thuở nhỏ đã nổi tiếng là người chí hiếu, ông đỗ khoa Minh Kinh rồi tòng quân làm tiết độ sứ, lấy ân tín mà đãi 3 quân, được quân sĩ mến phục. Đầu năm Kiến Trung (Niên hiệu Đường Đức tông), ông giữ chức Tư nông khanh. Bấy giờ Diêu Lệnh Ngôn kéo quân vào kinh cùng Chu thứ mưu cướp ngôi nhà Đường. Chu thứ biết ông là người có danh vọng bèn bảo ông ra ngoài thành đón Diêu Lệnh Ngôn, ông giã vờ bằng lòng nhưng kỳ thực ông đang tính chuyện giết bọn phản nghịch. Một hôm, Chu Thứ triệu Tú Thực đến bàn việc có cả Nguyên Hựu, Lý Tử Bình cùng dự. Tú Thực bận nhung phục đang nói chuyện với Hưu. Khi Chu thứ nói đến chuyện tiếm vị, ông đứng phắt ngay dậy, cướp lấy cái hốt ngà của Hưu đang cầm chạy đến nhổ nước bọt vào mặt Chu Thứ mà mắng rằng: "Đồ cuồng tặc đáng phanh thây muôn đoạn. Tao lẽ nào lại tha cho mày làm phản." Nói đoạn ông cầm hốt đánh vào đầu Chi Thứ. Thứ đưa tay đỡ, hốt đánh trúng vào trán máu chảy đầy mặt, ông bị chúng giết chết