Khóc Lân

Học thuật
Thân thiện
Định nghĩa
  1. Danh từ:
    • Tên một điển tích, một sự kiện lịch sử: "Khóc Lân" sự kiện Khổng Tử khóc thương khi thấy con kỳ lân bị thương, coi đó điềm báo thời đại suy vi đạo của mình đã đến lúc cùng.
    • Biểu tượng của nỗi đau trước sự suy tàn của thời thế: "Khóc Lân" trở thành hình ảnh ẩn dụ cho sự đau xót, thương tiếc trước cảnh loạn lạc, đạo đức suy đồi sự kết thúc của một thời đại tốt đẹp.
dụ sử dụng
  • Danh từ:
    • Điển tích "Khóc Lân" thể hiện nỗi bi ai của bậc hiền triết trước vận mệnh.
    • Tâm trạng của ông ấy lúc đó như Khổng Tử "Khóc Lân", đau đớn thấy lý tưởng sụp đổ.
Các cách sử dụng nâng cao
  • Dùng như một thành ngữ ẩn dụ: Diễn tả nỗi buồn sâu sắc, sự tiếc nuối trước sự kết thúc của một giá trị, một thời kỳ hoặc một lý tưởng cao đẹp.
    • Nhà văn già như đang "khóc lân" cho một thời văn chương đã qua.
  • Dùng trong văn chương, thi ca: Thường được các tác giả vận dụng để gợi lên không khí bi ai, hoài cổ.
    • Bài thơ mang âm hưởng "khóc lân" trước cảnh non sông điêu tàn.
Biến thể từ gần giống
  • Thương lân: Cùng chỉ sự việc Khổng Tử thương xót con kỳ lân, thường dùng với sắc thái tương tự.
  • Lân thương: Cách nói khác, nhấn mạnh vào đối tượng (con lân) bị thương, nguyên nhân gây nên sự việc.
Từ đồng nghĩa
  • Ai điếu: Than khóc, thương tiếc (thường dùng trong văn tế).
  • Thương tâm: Đau lòng, xót xa (nghĩa rộng hơn, không mang tính điển tích).
Thành ngữ liên quan
  • "Lân xuất thời loạn" / "Kỳ lân xuất hiện thời loạn": Kỳ lân xuất hiện vào thời loạn lạc. Thành ngữ này cùng xuất phát từ điển tích, ám chỉ người tài, vật quý xuất hiện không đúng thời cơ, dẫn đến bi kịch.
  • "Đạo cùng": Đạo đến lúc cùng tắc, hết đường phát triển. Đây chính lời than của Khổng Tử trong sự kiện "Khóc Lân".
  1. Xuân Thu, Cỏng Dương truyện: Mùa xuân năm Lỗ Ai Công thứ 14 (481 trước CN), trong một chuyến đi sănmiền Tây, người đánh xe hộ thúc tên Thượng săn bắt được con lân què chân trước bên trái. Ai cũng cho điều không lành, đem thả ra. Học trò ông Nhiễn\m Hữu bảo với Khổng Tử. Khổng Tử đến xem trông thấy nói rằng: "Thục vị lai tai ! Thục vị lai tai !" (Ai bảo Kỳ lân ra làm ! Ai bảo Kỳ lân ra làm !). Nói rồi cầm vạt áo, che mặt khóc, cho rằng đời sắp suy loạn, đạo của mình đã đến lúc cùng, mới than rằng: "Đường ngu chi thế lân phụng du, kim phi kỳ thời lai ? Lân hề, lân hề, ngã tâm ưu." (Thời Đường Ngu lân phụng rong chơi, nay không phải thời đến cớ sao ? Lân này, Lân này, lòng ta lo buồn biết bao). Khổng Tử trở về nói rằng: "Ngõ đạo cùng hy" (Đạo ta đã đến lúc rồi). Hai năm sau, Khổng Tử mắc bệnh, được 7 ngày thì mất
  2. Xem Kinh Lân