Kinh Lân

  1. Kinh xuân Thu
  2. Theo lời tự sách "XuânThu chính nghĩa" của Khổng Đĩnh Đạt, Khổng Tử soạn kinh Xuân Thu, chép việc nước Lỗ ngụ lờibao biếm. Sự khen chê cốt ngụchữ dùng, chỉ một chữ ngụ ý chê thành tiếng xấu muôn đời, một chữ ngụ ý khen được tiếng thơm thiên cổ. vậy, người đời sau khi bàn kinh Xuân Thu nói: "Nhất tự chi bao vinh ư hoa cổn, nhất tự chi biếm nhục ư phủ việt." (Một chữ khen vinh hơn được chiếc áo cổn hoa vua ban, một chữ chê nhục hơn phải tội búa rìu.)
  3. Kinh Xuân Thu chép sử nước Lỗ từ Lỗ ân Công (721 - 710 trước CN) đến Lỗ Ai Công (494 - 466 trước CN) nhằm mục đích tầm truyền cái đại nghĩa, danh phận về đường luân lý chính trị quân chủ. Văn kinh Xuân Thu nghiêm chỉnh về ý nghĩa vị trí từng chỗ, đến đời Lỗ Ai Công năm thứ 14 (481 trước CN), người nước Lỗ đi săn bắt được con Kỳ lân què chân trước bên trái, ai cũng cho điềm không lành, đem thả ra ngoài đồng. Học trò Nhiễm Hữu báo cho Khổng Tử. Khổng Tử ra đồng xem thấy, trở về than rằng:"Ngõ đạo cùng hỹ." (Đạo ta đã đến lúc cùng rồi). Kinh Xuân Thu chép đến chuyện săn bắt được Kỳ Lân thì Khổng Tử dừng bút không chép nữa nên gọi là Kinh Lân
  4. Xem Khóc Lân

Khám phá thêm

Các từ liên quan

Từ gần giống