Lê Văn Duyệt

Học thuật
Thân thiện
Lê Văn Duyệt

Ông Lê Văn Duyệt mặc triều phục đứng trước bản đồ.

Định nghĩa
  1. Danh từ riêng:
    • Tên một nhân vật lịch sử Việt Nam: Văn Duyệt tên của một vị tướng, công thần trọng yếu dưới triều Nguyễn, công lớn trong việc phò tá chúa Nguyễn Ánh (vua Gia Long sau này) trấn giữ, phát triển vùng đất Gia Định.
dụ sử dụng
  • Danh từ riêng:
    • Lăng mộ của Văn Duyệt hiện nằmquận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
    • Văn Duyệt hai lần giữ chức Tổng trấn Gia Định thành.
Các cách sử dụng nâng cao
  • "Thời kỳ Văn Duyệt làm Tổng trấn": cụm từ dùng để chỉ giai đoạn ông cai quản vùng Gia Định, thường được nhắc đến như một thời kỳ ổn định phát triển.

    • Vùng đất Nam Bộ phát triển thịnh vượng trong thời kỳ Văn Duyệt làm Tổng trấn.
  • "Chính sách của Văn Duyệt": chỉ những đường lối cai trị, đối nội đối ngoại ông áp dụng khi tại chức.

    • Chính sách của Văn Duyệt đối với người Hoa người Khmer được đánh giá cởi mở.
Biến thể từ liên quan
  • Lăng Ông (Lăng Tả Quân, Lăng Chiểu): tên gọi dân gian phổ biến chỉ khu lăng mộ của Văn Duyệt, thể hiện sự tôn kính của người dân.

    • Lễ hội Kỳ Yên tại Lăng Ông thu hút rất đông người dân.
  • Cuộc nổi dậy Văn Khôi: sự kiện lịch sử do con nuôi của ông Văn Khôi phát động sau khi ông mất, liên hệ mật thiết đến danh tiếng gia đình ông.

    • Cuộc nổi dậy Văn Khôi khiến triều đình Huế phải vất vả trấn áp.
Từ đồng nghĩa / Cách gọi khác
  • Đức Tả Quân: cách gọi tôn kính, nhấn mạnh chức vụ "Tả quân" đức độ của ông.
  • Thượng Công Văn Duyệt: cách gọi trang trọng, đề cao công lao của ông.
Thành ngữ / Cụm từ cố định liên quan
  • "Nợ đòi Văn Duyệt, nợ đòi Văn Duyệt": một câu nói dân gianNam Bộ, ám chỉ những món nợ khó đòi hoặc những việc khó giải quyết, phản ánh hình ảnh một vị quan nghiêm minh, xử án chí công.
    • Cái nợ này chắc phải kêu "nợ đòi Văn Duyệt" quá!
Lê Văn Duyệt

Ông Lê Văn Duyệt mặc triều phục đứng trước bản đồ.

  1. (Quý Mùi 1763 - Nhâm Thìn 1832)
  2. Tướng, công thần nhà Nguyễn, quê 1àng Bồ Đề, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Nguyên từ đời nội tổ di cư vào miền Nam ngụ 1àng Hòa Khánh (gần Vàm Trà Lọt) tỉnh Định Tường (nay Tiền Giang), sang đời thân phụ ông Văn Hiếu dời đến Rạch Gầm thuộc Long Hưng, Mĩ Tho, cũng trong tỉnh Định Tường
  3. Khi Nguyễn ánh bị nghĩa quân Tây Sơn đuổi chạy đến Rạch Gầm gặp ông, liền thu dụng làm bộ tướng. Ông dày công phù tá Nguyễn ánh, lần bị Tây Sơn bắt nhưng thoát được, Nguyễn ánh phong làm Cai , từng hộ giá Nguyễn ánh sang Xiêm (Thái Lan) hai lần. Khi trở về Gia Định ông lập hai chiến công lớn: thu phục thành Qui Nhơn trận đánh cửa biển Thị Nại (thuộc Bình Định) năm Canh thân 1800
  4. Năm Tân Dậu 1801 chiếm xong Phú Xuân, Nguyễn ánh lên ngôi tức vua Gia Long, ông được phong làm Khâm sai Chưởng Tả quân dinh Bình Tây tướng quân, tước Quận Công (1802). Sau đó ông nhận lệnh cùng trung quân Nguyễn Văn Thành hậu quân Chất đem quân đi bình định miền Bắc, rồi lãnh chức Kinh lược sứ Thanh Nghệ (Thanh Hóa, Nghệ An)
  5. Năm Quý dậu, ông vào Nam làm Tổng trấn Gia Định, bảo hộ Chân Lạp (Cam-Pu-Chia), đến năm 1816 triều đình triệu về kinh, năm 1820 ông trở vào làm Tổng trấn Gia Định lần thứ hai cho đến ngày 30-7 âm lịch năm N. Thìn 1832 ông mất tại chức, thọ 69 tuổi
  6. Mộ ông nay hãy còn tại Bình Hòa (nay thuộc TP. Hồ Chí Minh) nhân dân xưng tụng Lăng đức Tả quân, Lăng Thượng Công, hay Lăng ông Bà Chiểu. Sau khi mất, con nuôi ông Văn Khôi liên kết với Vệ úy Thái Công Triều nghĩa quan dấy binh phản đối sự hà khắc của triều đình Huế, chiếm thành Gia định suốt 2 năm (1833-1834). Quân triều phải vất vả lắm mới dẹp được
  7. Minh Mạng vốn ghét ông nên nhân cơ hội này đã kết tội ông, ra lệnh san bằng phần mộ dựng tấm bia ghi: "Quyền yểm Văn Duyệt phục pháp xứ" (đây nơi tên yêm hoạn Văn Duyệt chịu phép nước). Mãi đến đời Tự Đức mới phục hồi danh dự ông