Núi đất ba lời
Học thuậtThân thiện
Định nghĩa
- Danh từ:
- Lời hẹn ước, lời thề trung thành: "Núi đất ba lời" là thành ngữ chỉ ba điều kiện mà Quan Vân Trường đã đưa ra trước khi chịu hàng Tào Tháo, thể hiện lòng trung nghĩa tuyệt đối với Lưu Bị và nhà Hán.
- Biểu tượng của chữ tín và lòng trung thành: Cụm từ này đã trở thành biểu tượng cho sự giữ chữ tín, lòng trung thành son sắt, dù trong hoàn cảnh khó khăn vẫn không thay lòng đổi dạ.
Ví dụ sử dụng
- Danh từ:
- Lòng trung nghĩa của ông ấy như "núi đất ba lời", không gì có thể lay chuyển. (Sự trung thành của anh ấy vững như lời thề của Quan Công, không gì có thể làm thay đổi.)
- Câu chuyện "núi đất ba lời" là bài học về chữ tín cho hậu thế. (Câu chuyện về ba lời thề của Quan Công là bài học về sự giữ chữ tín cho các thế hệ sau.)
Các cách sử dụng nâng cao
- Dùng để ví von lòng trung thành: Thành ngữ này thường được dùng để ca ngợi, ví von về lòng trung thành kiên định, không đổi thay của một người.
- Anh ta đối với công ty có thể nói là "núi đất ba lời". (Anh ấy đối với công ty có thể nói là trung thành tuyệt đối.)
- Nhắc đến như một điển tích, giai thoại lịch sử: Khi nhắc đến cụm từ này, người ta thường liên tưởng ngay đến điển tích về Quan Vân Trường trong .
- Tinh thần "núi đất ba lời" của Quan Công mãi là tấm gương sáng. (Tinh thần giữ trọn ba lời thề của Quan Công mãi là tấm gương sáng.)
Biến thể và từ gần giống
- Ba lời thề: Cách gọi tắt, nhấn mạnh vào nội dung lời hứa.
- Chữ tín như Quan Công: Thành ngữ ca ngợi người có chữ tín, lòng trung nghĩa.
- Trung nghĩa: (Tính từ) Chỉ phẩm chất trung thành và giữ đạo nghĩa.
Từ đồng nghĩa
- Lời thề son sắt: Lời hứa chắc chắn, không thay đổi.
- Chữ tín nghìn vàng: Sự giữ lời hứa có giá trị rất lớn.
- Một lòng một dạ: Chỉ sự trung thành, kiên định.
Thành ngữ liên quan
- "Một người nói ngàn người tin": Chỉ uy tín, chữ tín rất lớn của một người (thường dùng để ví với Quan Vân Trường).
- "Gian nan mới biết lòng ngay": Hoàn cảnh khó khăn mới thử thách được lòng trung thực, ngay thẳng. (Tinh thần của "núi đất ba lời" được thể hiện trong hoàn cảnh bị vây khốn.)
- Nói 3 lời hẹn ước của Quan Vân Trường
- Tam Quốc diễn nghĩa: Tào Tháo khởi 20 vạn quân đánh Lưu Bị. Lưu Bị thua to phải chạy sang nương nhờ Viên Thiệu. Bấy giờ, Quan Vân Trường đóng giữ Hạ Bì. Tào Tháo đem quân đến đánh, Hạ Bì thất thủ. Vân Trường phải rút quân lên núi đất đóng quân tạm nghĩ. Tào Tháo cho Trương Liêu lên dụ Quan Vân Trường hàng. Thế cô lực kiệt, Vân Trường giao ước: "Tôi có 3 điều giao ước, nếu Thừa tướng (Tào Tháo) nghe cho, tôi xin lập tức cởi giáp lai hàng, nhược bằng không nghe, tôi đành chịu 3 tội mà chết. Một là: Ta cùng Hoàng Thúc (chỉ Lưu Bị) có lập lời thề cùng nhau giúp nhà Hán, nay ta chỉ hàng vua Hán, hkông hàng Tào Tháo. Hai là: 2 chị dâu ta phải được cấp dưỡng theo bổng lộc của Hoàng Thúc, nhất nhất người ngoài không được đến cửa. Ba là: Hể ta được thấy Hoàng thúc ở đâu, ta lập tức cáo từ rồi đi theo. Ba điều ấy nếu thiếu một điều, ta nhất địnhkhông hàng." Tào Tháo ưng thuận. Vân Trường rất được Tháo hậu đãi cốt làm ông phải chịu ơn nặng mà không nở bỏ mình về với Lưu Bị nữa, nhưng sau khi biết được tin Lưu Bị, Vân Trường liền từ tạ Tào Tháo mà về với Lưu Bị
- Xem Quan Hầu