Ngô dữ Ngô bào
Học thuậtThân thiện
Định nghĩa
- Thành ngữ:
- Chỉ mối quan hệ gần gũi, thân thiết giữa con người với nhau và sự đồng cảm, gắn bó giữa con người với vạn vật: Thành ngữ này xuất phát từ tư tưởng Nho giáo, khẳng định mọi người đều là anh em đồng bào, còn vạn vật tuy khác loài nhưng cũng là bạn đồng hành, cùng chia sẻ nguồn gốc từ trời đất.
Ví dụ sử dụng
- Thành ngữ:
- Tư tưởng "ngô dữ ngô bào" thể hiện tinh thần nhân văn sâu sắc, khuyên con người phải yêu thương đồng loại và hòa hợp với thiên nhiên.
- Trong văn hóa truyền thống, quan niệm "ngô dữ ngô bào" là cơ sở cho lòng nhân ái, sự khoan dung.
Các cách sử dụng nâng cao
- Trong triết học/tư tưởng: Thành ngữ này thường được dẫn ra để bàn về đạo đức, lòng nhân và trách nhiệm của con người đối với xã hội và vũ trụ.
- Học thuyết của Trương Tái nhấn mạnh đến tình "ngô dữ ngô bào", coi đó là gốc rễ của đức nhân.
Biến thể và từ gần giống
- Đồng bào (danh từ): Chỉ những người cùng một nòi giống, một dân tộc; anh em trong một nước.
- Tinh thần tương thân tương ái của đồng bào cả nước.
- Vạn vật nhất thể (thành ngữ/tư tưởng): Quan niệm cho rằng con người và vạn vật trong vũ trụ là một thể thống nhất, có mối liên hệ mật thiết.
Từ đồng nghĩa
- Thiên địa vạn vật nhất thể: Trời đất và vạn vật là một.
- Tứ hải giai huynh đệ: Bốn biển đều là anh em (chỉ tình người rộng khắp).
Giải thích từ nguyên
- Thành ngữ này rút ra từ lời chú giải của Trương Tái (đời Tống, Trung Quốc) cho bài "Tây Minh". Nguyên văn: "Dân ngô đồng bào, vật ngô dữ giã." (Dân là anh em cùng bọc của ta, vạn vật là bạn đồng hành của ta). "Ngô bào" (吾胞) nghĩa là "anh em ruột thịt của ta", "Ngô dữ" (吾與) nghĩa là "bạn bè, bè lũ của ta".
- Chỉ việc cùng là đồng loại, đồng bào
- Bài "Tây Minh" của Trương Trí có câu: "Dân ngô đồng bào, vật ngô dữ giã." (Người với ta là đồng loại, cho nên gọi là đồng bào, thì coi nhau như anh em mình. Vật (động, thực vật) cùng ta chẳng đồng loại, nhưng tính thể sở tự cũng vốn ở trời đất cho nên gọi là "ngô dữ" thì coi nhau như bè lũ mình.)