Nguyễn Trọng Trí
Học thuậtThân thiện
Định nghĩa
- Danh từ riêng:
- Tên thật của một nhà thơ Việt Nam nổi tiếng thuộc phong trào Thơ mới: Nguyễn Trọng Trí là tên khai sinh của thi sĩ Hàn Mạc Tử, một trong những nhà thơ có ảnh hưởng lớn của văn học Việt Nam hiện đại.
- Một nhân vật lịch sử văn học: Tên này chỉ một con người cụ thể, gắn liền với cuộc đời ngắn ngủi, bi kịch và sự nghiệp thơ ca đặc sắc.
Ví dụ sử dụng
- Danh từ riêng:
- Nhà thơ Hàn Mạc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí.
- Nguyễn Trọng Trí sinh năm 1912 tại Quảng Bình.
- Cuộc đời của Nguyễn Trọng Trí là một bi kịch lớn của làng thơ Việt Nam.
Các cách sử dụng nâng cao
- Dùng trong ngữ cảnh nghiên cứu, phê bình văn học: Khi nhấn mạnh đến con người thật, cuộc đời và bối cảnh sáng tác, tên thật Nguyễn Trọng Trí thường được sử dụng để phân biệt với các bút danh và hình tượng thơ ca.
- Đằng sau những vần thơ điên loạn của Hàn Mạc Tử là một Nguyễn Trọng Trí khao khát yêu đời và bị bệnh tật giày vò.
Biến thể và từ liên quan
- Hàn Mạc Tử: Bút danh chính và nổi tiếng nhất của Nguyễn Trọng Trí, thường dùng để chỉ tác giả và tác phẩm của ông.
- Lệ Thanh: Một bút hiệu khác của ông, được ghép từ tên làng Lệ Mỹ (nơi sinh) và Thanh Tân (quán quán).
- Phong Trần, Minh Duệ Thị: Các bút hiệu khác ít được biết đến hơn của Nguyễn Trọng Trí.
Từ đồng nghĩa/Gần nghĩa
- Hàn Mạc Tử: Đây là tên gọi phổ biến nhất, gần như đồng nhất với Nguyễn Trọng Trí trong đời sống văn học.
- Nhà thơ Hàn Mạc Tử: Cách gọi trang trọng, nhấn mạnh vai trò nghề nghiệp và đóng góp.
Thông tin bổ sung (Về nhân vật Nguyễn Trọng Trí)
- Tiểu sử tóm tắt: Sinh ngày 22/9/1912 tại Lệ Mỹ, Quảng Bình. Làm thơ từ sớm, nổi tiếng với phong cách thơ lãng mạn, kỳ bí và đau thương. Mắc bệnh phong và qua đời ngày 11/11/1940 tại trại phong Quy Hòa, khi mới 28 tuổi.
- Tác phẩm tiêu biểu: Các tập thơ như (1936), (1957).
- Gia thế: Tổ tiên gốc họ Phạm ở Thanh Hóa, sau đổi thành họ Nguyễn. Thân phụ là Nguyễn Văn Toản (tức Nguyễn Bồi).
- Giai thoại văn học: Bút danh Hàn Mạc Tử ban đầu viết là "Hàn Mạc Tử" (bức rèm lạnh), sau được bạn là Quách Tấn gợi ý thêm dấu ngã thành "Hàn Mặc Tử" (chàng bút mực), mang ý nghĩa sâu sắc hơn.
- (Quí sửu 1912 - Canh thìn 1940)
- Nhà thơ, bút danh Hàn Mạc Tử, còn có các bút hiệu: Phong Trần, Lệ Thanh, Minh Duệ Thị. Về bút danh Hàn Mạc Tử nguyên trước là Hàn Mạc Tử, có nghĩa là bức rèm lạnh. người bạn thơ là Quách Tấn dí dỏm bảo ông:" Đã có rèm thì thêm bóng nguyệt vào. Hỏi còn cảnh nào nên thơ bằng"! Ông hiểu ra, thêm dấu ngữa vào chữ A, Hàn Mạc hóa ra" Hàn Mặc" và Hàn Mạc Tử có nghĩa là Chàng Bút Mực. Còn bút hiệu Lệ Thanh là ghép chữ đầu của nơi sinh là Lệ Mĩ và chữ đầu của chính quán: Thanh Tân
- Ông sinh ngày 22-9-1912 tại Lệ Mĩ (Đồng Hới) tỉnh Quảng Bình, con ông Nguyễn Văn Toản và bà Nguyễn Thị Duy. Tổ tiên vốn họ Phạm và quê quán ở Thanh Hóa. Ông cố tên Phạm Chương liên can về quốc sự, gia đình bị truy nã, nên người con là Phạm Bồi trốn vào Thừa Thiên đổi ra họ Nguyễn, theo họ mẹ. Thân sinh ông (Nguyễn Văn Toản) là con trưởng cụ Phạm Bồi tức Nguyễn Bồi
- Từ năm 1930-1931, ông làm thơ và bắt đầu có tiếng, nhất là có mấy bài Đường luật như Thức Khuya được Phan Bội Châu khen và họa lại
- Non sông bốn mặt ngủ mơ màng,
- Thức chi mình ta dạ chăng an
- Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối,
- Gió thu lọt cưa cọ mài chăn
- Khóc dùm thân thế hoa rơi lệ,
- Buồn giúp công danh dế dạo đàn
- Chổi đập nôm na vài điệu cũ
- Năm canh tâm sự vẫn chưa tàn
- Phan Bội Châu họa:
- Chợ lợi trường danh tí chẳng màng,
- Sao ăn không ngọt ngủ không an?
- Trăn năn ngán đó tuồng dâu bê,
- Muôn họ nhờ ai bạn chiếu chăn
- Cửa sấm gớm ghe người đánh trống,
- Tai trâu mỏi mệt khách đưa đàn
- Lòng sen đằng đẵng tơ sen vướng,
- Mưa gió bao phen gộc chẳng tàn
- Ông làm việc ở sở Đạc điền Qui Nhơn (1932), thỉnh thoảng gởi thơ đăng ở tuần báo Phụ nữ Tân văn trong Nam, ký tắt với bút hiệu P.T. Qui Nhơn
- Đầu năm 1935 ông xin thôi việc, rồi vào Sài Gòn, giữ trang văn chương ở các báo Sài Gòn, Công Luận, Tân Thời, Trong khuê phòng
- Được một năm, ông trở về Qui Nhơn, rồi mắc bệnh phong, điều trị tại nhà khá lâu không hết, ông bị cưỡng bức vào nhà thương Qui Hòa. Chẳng bao lâu ông mất vào ngày 11-11-1940, hưởng dương 28 tuổi
- Ông còn để lại mấy tập thơ xuất sắc:
- - Gái quê, xuất bản 1936
- - Thơ Hàn Mạc Tử (1957)
- Người bạn thơ Quách Tấn mộng thấy Hàn Mạc Tử:
- "Ôi Lệ Thanh! Ôi Lệ Thanh!
- Một giấc trưa nay lại gặp mình
- Nhan sắc châu sa màu phú quí,
- Tài ba bút trổ nét tinh anh
- Rượu tần thu cũ say sưa chuyện,
- Hương lạ trời cao bát ngát tình