Phan Thanh Giản
Học thuậtThân thiện
Định nghĩa
- Danh từ riêng:
- Danh sĩ, đại thần triều Nguyễn: Phan Thanh Giản là một nhân vật lịch sử Việt Nam, một vị quan lớn và là nhà văn hóa thời nhà Nguyễn.
- Vị Tiến sĩ đầu tiên của Nam Kỳ: Ông là người đỗ đại khoa (Tiến sĩ) đầu tiên ở vùng đất phía Nam.
Thông tin lịch sử và tiểu sử
- Thân thế: Sinh năm 1796 tại Bảo Thạnh, Vĩnh Long (nay thuộc Ba Tri, Bến Tre). Tự tử ngày 04 tháng 8 năm 1867 tại Vĩnh Long.
- Khoa bảng: Đỗ Cử nhân (1825), đỗ Tiến sĩ (1826).
- Quan lộc: Làm quan trải qua ba triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Giữ các chức vụ cao như Hiệp biện Đại học sĩ, Thượng thư bộ Hình, Thượng thư bộ Hộ.
- Hoạt động ngoại giao: Từng đi sứ sang Trung Quốc, In-đô-nê-xi-a, Xing-ga-po, Pháp, Tây Ban Nha.
- Vai trò lịch sử quan trọng:
- Năm 1862, cùng Lâm Duy Hiệp ký Hòa ước Nhâm Tuất, nhượng ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho thực dân Pháp.
- Năm 1863, làm Chánh sứ sang Pháp để thương nghị chuộc lại ba tỉnh nhưng thất bại.
- Năm 1867, để mất thành Vĩnh Long vào tay Pháp, dẫn đến việc ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ bị chiếm. Sau đó, ông tuyệt thực rồi uống thuốc độc tự tử.
- Nhân cách và đánh giá: Được ghi nhận là người cương trực, khẳng khái, thanh liêm, được nhiều người kính phục. Tuy nhiên, thái độ chủ hòa và những sự kiện lịch sử liên quan khiến ông bị vua Tự Đức trách phạt (đục tên trên bia Tiến sĩ) và nhận nhiều đánh giá trái chiều từ hậu thế.
- Di ngôn: Trước khi mất, ông dặn con cháu không được cộng tác với giặc Pháp và để lại lời trối về tấm minh sinh (bài vị).
Đóng góp văn hóa
- Nhà văn, nhà thơ: Phan Thanh Giản là một tác gia lớn, để lại nhiều tác phẩm có giá trị.
- Tác phẩm tiêu biểu: "Lương Khê thi thảo", "Lương Khê văn thảo", "Sứ trình thi tập", "Ước Phu thi tập", "Minh Mạng chính yếu", "Việt sử thông giám cương mục".
Ví dụ sử dụng
Trong văn viết lịch sử:
- Phan Thanh Giản là một nhân vật lịch sử phức tạp, chứa đựng nhiều bi kịch của thời cuộc.
- Cuộc đời và sự nghiệp của Phan Thanh Giản là đề tài cho nhiều công trình nghiên cứu.
Trong thơ văn, diễn ngôn:
- Bài văn tế Phan Thanh Giản của Nguyễn Đình Chiểu đã thể hiện sự thương cảm sâu sắc.
- Nhân cách thanh cao của Phan Thanh Giản vẫn được nhiều người ngưỡng mộ.
Các cách đề cập và đánh giá trong sử học
- Một trí thức nặng lòng với nước: Thường được nhắc đến với tư cách một vị quan thanh liêm, yêu nước theo cách riêng trong bối cảnh khó khăn.
- Nhân vật gây tranh cãi: Hành động và quyết định của ông, đặc biệt liên quan đến việc ký hòa ước và để mất thành, luôn là chủ đề cho các cuộc tranh luận sử học về trách nhiệm cá nhân và thời thế.
Biến thể và từ / cụm từ liên quan
- Cụ Phan: Cách gọi tôn kính.
- Hiệp biện Đại học sĩ Phan Thanh Giản: Cách gọi đầy đủ chức tước.
- Lương Khê tiên sinh: Gọi theo hiệu (Lương Khê) của ông.
Từ / cụm từ đồng nghĩa hoặc cùng chỉ đối tượng
- Vị Tiến sĩ khai khoa Nam Kỳ: Cách nói nhấn mạnh vai trò khoa bảng của ông ở vùng Nam Bộ.
- Vị đại thần triều Nguyễn: Chỉ chung địa vị của ông.
Thành ngữ, câu nói liên quan
- "Hải nhai lão thư sinh": (Ông học trò già nơi góc biển) - Lời trối của chính Phan Thanh Giản, thể hiện sự khiêm nhường và nỗi niềm hoài cổ.
- "Phan, Lâm mại quốc; triều đình khí dân": (Phan [Thanh Giản], Lâm [Duy Hiệp] bán nước; triều đình bỏ rơi dân) - Câu nói phổ biến trong dân gian lúc bấy giờ, phản ánh sự phẫn nộ trước việc ký hòa ước cắt đất.
- (1796-1867)
- Danh sĩ, đại thần triều Nguyễn, tự Tĩnh Bá, Đạm Như, hiệu Lương Khê, Ước Phu, biệt hiệu Mai Xuyên, sinh năm 1796 tại Bảo Thạnh, huyện Bảo An, Vĩnh Long (nay là huyện Ba Tri, Bến Tre), tự tử ngày 04-08-1867 tại Vĩnh Long, sau khi Pháp chiếm thành do ông trấn giữ
- Năm 1825, đỗ cử nhân, năm 1826 đỗ tiến sĩ, ông là vị Tiến sĩ đầu tiên ở miền Nam, làm quan trải qua ba triều Minh Mạng, Thiệu Trị,Tự Đức, nhiều lần thăng giáng, Hiệp biện đại học sĩ, Thượng thư bộ Hình và bộ Hộ.Từng đi sứ Trung Quốc, In-đô-nê-xi-a, Xing-ga-po, Pháp, Tây Ban Nha. Năm 1862, ông cùng Lâm Duy Hiệp đại diện cho triều đình Tự Đức ký kết Hòa ước Nhâm Tuất (ngày 05-06-1862) giao trọn ba tỉnh miền Đông Nam kỳ cho Pháp. Năm 1863, ông được cử làm Chánh sứ (Phó sứ Phạm Phú Thứ và Ngụy Khắc Đản) sang Pháp thương nghị chuộc ba tỉnh miền Đông Nam kỳ, nhưng không có kết quả. Trở về Long (1867), ông thụ động để mất thành, từ đó ba tỉnh miền Tây Nam kỳ rơi tiếp vào tay giặc chỉ trong mấy ngày (24-06-1867). Sau khi thành mất ông tuyệt thực suốt 17 ngày, rồi uống thuốc độc tự tử
- Ông tính cương trực, khẳng khái, hiếu nghĩa, thanh liêm, không ai không kính phục, nhưng trong cơn nước biến, thái độ chủ hòa của ông đã làm giảm giá trị của ông, lại còn bị Tự Đức cho đục bỏ tên ở bia Tiến sĩ. Tuy nhiên, vẫn có một số trí thức tỏ lòng thương tiếc tài năng và nhân cách của ông. Khi sắp mất, ông dặn con cháu, không được cộng tác với giặc Pháp và tự tay viết mấy dòng chữ trao cho người nhà: "Minh sinh thỉnh tỉnh, nhược vô, ưng thư: Hải nhai lão thư thư sinh tính Phan chi cửu" (Tấm triệu hãy bỏ đi không cần có, nếu không bỏ thì chỉ nên để lòng triệu (tấm minh sinh: linh cửu người học trò già ở góc biển họ Phan)
- Trong các thơ văn truy niệm, bài thơ của Nguyễn Đình Chiểu gây cảm xúc mạnh hơn cả. Phan Thanh Giản là một nhà văn lớn, ông có nhiều tác phẩm có giá trị:" Lương khê thi thảo, Lương khê văn thảo, Sứ thanh thi tập, Tây phù nhật ký, Ước phu thi tập, Tích ung canh ca hội tập, Sứ trình thi tập, Việt sử thông giám cương mục, Minh Mạng chính yếu