Lê Lợi
Học thuậtThân thiện
Định nghĩa
- Danh từ riêng:
- Vị vua khai sáng triều đại nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam: Lê Lợi là lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống lại ách đô hộ của nhà Minh, giành lại độc lập cho Đại Việt và lên ngôi hoàng đế năm 1428.
- Biểu tượng của tinh thần yêu nước, ý chí quật cường và tài thao lược: Tên tuổi của ông gắn liền với giai đoạn lịch sử hào hùng đánh đuổi quân xâm lược, tái lập nền tự chủ cho quốc gia.
Ví dụ sử dụng
- Danh từ riêng:
- Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa tại Lam Sơn vào năm 1418.
- Sau chiến thắng Chi Lăng năm 1427, Lê Lợi buộc quân Minh phải rút lui về nước.
- Lăng mộ của vua Lê Thái Tổ (tức Lê Lợi) được đặt tại Lam Sơn, Thanh Hóa.
Các cách sử dụng nâng cao
"Thời đại Lê Lợi": Cụm từ dùng để chỉ giai đoạn lịch sử do ông lãnh đạo cuộc kháng chiến và sáng lập vương triều.
- Nghiên cứu về thời đại Lê Lợi giúp ta hiểu rõ công cuộc giải phóng dân tộc thế kỷ XV.
"Tinh thần Lê Lợi": Cách nói ẩn dụ, nhấn mạnh đến ý chí kiên cường, lòng yêu nước và nghệ thuật quân sự tài tình của ông.
- Bài học về tinh thần Lê Lợi vẫn còn nguyên giá trị trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Biến thể và từ liên quan
- Lê Thái Tổ: Thụy hiệu của Lê Lợi sau khi lên ngôi hoàng đế.
- Bình Định Vương: Danh xưng mà Lê Lợi sử dụng trong thời kỳ đầu lãnh đạo khởi nghĩa.
- Khởi nghĩa Lam Sơn: Cuộc khởi nghĩa chống Minh do Lê Lợi lãnh đạo.
- Hậu Lê/Triều Lê sơ: Triều đại do Lê Lợi sáng lập, phân biệt với nhà Tiền Lê của Lê Hoàn.
Từ đồng nghĩa/Gần nghĩa
- Vị minh quân khai quốc: (Cách gọi tôn kính) Vị vua sáng suốt mở đầu một triều đại.
- Lãnh tụ kháng Minh: Người lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Minh.
Các cụm từ liên quan
Theo cờ Lê Lợi: Tham gia, ủng hộ hoặc đi theo sự nghiệp khởi nghĩa của Lê Lợi.
- Hào kiệt bốn phương đều theo cờ Lê Lợi để đánh đuổi giặc Minh.
Kế hoạch của Lê Lợi: Chỉ những mưu lược, sách lược quân sự tài tình do ông và bộ tham mưu đề ra.
- Chiến thắng Chi Lăng là kết quả của một kế hoạch của Lê Lợi được tính toán rất kỹ lưỡng.
Thành ngữ/Tục ngữ liên quan
- "Lê Lợi hội thề Lũng Nhai": Chỉ sự kiện kết nghĩa anh em, thề nguyền cùng chung chí hướng cứu nước giữa Lê Lợi và các tướng lĩnh, trở thành biểu tượng của sự đoàn kết.
- "Áo bào thay Lê Lai": Nhắc đến sự hy sinh anh dũng của tướng Lê Lai để cứu chủ tướng Lê Lợi, trở thành biểu tượng của lòng trung nghĩa.
- (ất sửu 1385 - Quý sửu 1433)
- Vua khai sáng nhà Lê, lãnh tụ khởi nghĩa chống quân Minh
- Tằng tổ của ông là Lê Hối, nội tổ là Lê Đinh, quê ở thông Như án, huyện Lương Giang (nay là phủ Thiệu Hóa). tỉnh Thanh Hóa, sau dời về ở vùng Lam Sơn
- Ông là con út của Lê Khoáng và Trịnh Thị Ngọc hương (anh lớn của ông tên Học, thứ là Trừ). Nối nghiệp nhà làm chúa trại Lam Sơn, gặp khi quân Minh xâm chiếm đất nước, ông nuôi chí lớn đánh đuổi xâm lăng. Quan nhà Minh nghe tiếng ông, dụ cho làm quan, ông không chịu khuất, thường:" Làm trai nên giúp nạn lớn, lập công to, để tiếng thơm muôn đời, chớ sao lại chịu bo bo làm đầy tớ người". Ông dấu mình ở chốn sơn lâm, lo kết nạp hào kiệt, chiêu tập quân sĩ, đến cuối năm Đinh dậu 1417 thì nêu cao cờ nghĩa, xưng Bình Định vương. Dưới cờ giải phóng do ông lãnh đạo, lần hồi đông đủ mặt anh hào góp sức: Đinh Lễ, Đinh Liệt, Nguyễn Xí, Nguyễn Thân tức Lê Lai, Bùi Quốc Hưng, Trịng Khả, Lê Văn An, Lê Văn Linh, Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Trãi.
- Năm Mậu tuất 1418, thắng trận đầu tại Lạc Thủy, khiến tướng Minh là Mã Kì khiếp đảm. Chúng điên cuồng tung quân bao vây nghĩa quân tại Chí Linh. Thế nguy, nhờ có Lê Lai đổi áo chịu chết thay ông, để ông lánh thân về Lư Sơn (ở phía Tây châu Hoan, Hóa, tỉnh Thanh Hoá)
- Năm Canh tí 1420, tháng 10 ông dùng kế phục binh chiến thắng quân Lý Bân, Phương Chính tại Chi Lăng, rồi tiến công ở sách Ba Lẫm, thuộc Lỗi Giang, trong giai đoạn này thu dùng được Nguyễn Trãi làm tham mưu xuất sắc
- Năm Tân sửu 1421, phá quân Trần Trí và đánh đuổi được quân Lào tiếp tay với quân Minh
- Năm Giáp thìn 1424, chiến dịch Bồ Liệp, chém tướng giặc là Trần Trung, trận Trà Lân phá vỡ quân của Sư Hữu, giết tướng Trương Bản
- Năm Bính ngọ 1426, đánh lấy đuợc Nghệ An, tiến quân ra Đông Đô (Hà Nội). Trải các trận ở Ninh Kiều, ứng Thiên,Ninh Giang,quân oai khắp nơi. Sau đó lại triệt hạ được viện binh của quân Minh từ Vân Nam kéo sang, tại cầu Xa Luộc, rồi đánh bại luôn đại quân của Vương Thông nơi Cổ Lãm và Tụy Động
- Năm Đinh vị 1427, đóng quân ở Bồ Đề uy hiếp thành Đông Quan, dồn toàn lực luợng đánh một trận để đời tại Chi Lăng, chém chết Liễu Thăng tại gò Đảo Mả, bắt sống hai tướng Hoàng Phúc và Thôi Tụ tại Xương Giang, giết tướng Lương Minh, khiến Lý Khánh tự tử, đuổi được Mộc Thạnh, trốn chạy về nước. Kết quả: Tổng tư lệnh quân Minh là Vương Thông phải viết thư cầu hòa, rồi cuối cùng chúng đành ôm hận rút 86.000 quân Minh về nước
- Năm Mậu thân 1428, ông lên ngôi vua, tên thụy là Lê Thái tổ, đặt hiệu nước là Đại Việt, hiệu năm là Thuận Thiên, đô ở Đông Kinh (Hà Nội)
- Công nghiệp đuổi giặc giữ nước của ông được toàn dân ghi ơn. Nhưng sau đó ông nỡ lòng giết hại các công thần như Phạm Văn Xảo, Trần Nguyên Hãn, hầu hết các nhà chép sử đều phàn nàn chê trách
- Năm Quý sửu 1433, ngày 22-8 âm lịch ông mất, hưởng dương 48 tuổi, ở ngôi 6 năm. Chôn tại Vĩnh Lăng (Lam Sơn)