Thăng Long

Học thuật
Thân thiện
Thăng Long

Thăng Long là tên gọi cũ của Hà Nội.

Định nghĩa
  1. Danh từ riêng:
    • Tên gọi của Nội (1010-1831): "Thăng Long" tên do vua Thái Tổ đặt năm 1010 khi dời đô từ Hoa về đây, mang ý nghĩa "Rồng bay lên", tượng trưng cho sự thịnh vượng phát triển của đất nước.
    • Tên gọi một số đơn vị hành chính cấp : "Thăng Long" cũng tên của một số thuộc các huyện khác nhau ở Việt Nam.
dụ sử dụng
  • Danh từ riêng:
    • Thăng Long kinh đô của nước Đại Việt trong nhiều thế kỷ.
    • Lễ hội Thăng Long - Nội thu hút rất đông du khách.
    • Ông ấy sinh ra lớn lên Thăng Long, huyện Hiệp Đức.
Các cách sử dụng nâng cao
  • "Vùng đất Thăng Long": dùng để chỉ khu vực địa , lịch sử văn hóa gắn liền với kinh thành Thăng Long xưa.
    • Vùng đất Thăng Long bề dày lịch sử nghìn năm văn hiến.
  • "Tinh thần Thăng Long": cụm từ mang tính biểu tượng, chỉ tinh thần kiên cường, sáng tạo vươn lên.
    • Tinh thần Thăng Long luôn niềm tự hào của người Nội.
Biến thể từ gần giống
  • Thăng Long - Nội: cụm từ thường dùng để chỉ sự kế tục phát triển liên tục từ kinh đô đến thủ đô hiện đại.
  • Kinh thành Thăng Long: cách gọi trang trọng, nhấn mạnh vào vai trò kinh đô.
  • Đất Thăng Long: cách gọi mang tính văn chương, chỉ vùng đất này.
Từ đồng nghĩa
  • Nội (trong bối cảnh lịch sử từ 1831 trở đi): tên gọi chính thức hiện nay của thủ đô, được vua Minh Mạng đặt năm 1831.
  • Kẻ Chợ (tên gọi dân gian trong lịch sử): tên gọi phổ biến trong dân gian về Thăng Long xưa.
Thành ngữ, tục ngữ liên quan
  • "Thăng Long phi chiến địa": (Thăng Long không phải nơi dễ đánh nhau) - câu nói nổi tiếng của Trần Hưng Đạo, nhấn mạnh địa thế hiểm trở tầm quan trọng chiến lược của Thăng Long.
  • "Chẳng thơm cũng thể hoa nhài, Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An": (Tràng An tên gọi khác của Thăng Long/ Nội) - ca ngợi vẻ đẹp thanh lịch, nền của con người nơi đây.
Thăng Long

Thăng Long là tên gọi cũ của Hà Nội.

  1. Tên gọi của Nội (1010-1831). Do Lí Thái Tổ đặt 1010 khi dời đô từ Hoa đến. Nhàđã xây dựng thành Thăng Long gồm hai lớp vòng thành: vòng ngoài La Thành của Cao Biền được tu bổ lại (ngày nay vẫn còn dấu vết), vòng trong bao quanh cung điện nhà vua gọi là Hoàng Thành (ngày nay chưa tìm được dấu vết)
  2. () tên gọi các thuộc h. Kinh Môn (Hải Dương), h. Đông Hưng (Thái Bình), h. Nông Cống (Thanh Hoá), h. Hiệp Đức (Quảng Nam)